Nghiên cứu cơ bản

08/10/13 06:14

Ý kiến 1:

          1. Nghiên cứu cơ bản là gì?

          Hiện nay, chưa có cách hiểu thống nhất về khái niệm nghiên cứu cơ bản, tuy nhiên có thể rút ra những điểm chung khi bàn về vấn đề này như sau: Nghiên cứu cơ bản dù là nghiên cứu lý thuyết hay nghiên cứu thực nghiệm đều nhằm thu được những tri thức mới về các quy luật của thế giới quanh ta, trước mắt không nhằm ứng dụng thực tế.

2. Nghiên cứu cơ bản trong KHXH

Khái niệm nghiên cứu cơ bản nói trên cũng áp dụng cho việc nghiên cứu cơ bản trong KHXH, nghĩa là bằng nghiên cứu lý thuyết hay nghiên cứu thực nghiệm, bằng hoạt động sáng tạo của chủ thể nghiên cứu, nó phải thu được những tri thức mới về xã hội nói chung, về từng lĩnh vực của xã hội nói riêng, trong có những tri thức về các  hiện tượng xã hội, các sự kiện xã hội, các hoạt động xã hội, các quan hệ xã hội V.V…, đặc biệt là các quy luật vận động và phát triển xã hội, nhằm nhận thức sâu sắc hơn về xã hội và cải tạo tốt hơn đối với xã hội, nhưng chưa có mục đích thực tiễn trước mắt.

Một nghiên cứu trong KHXH không phát hiện được cái mới, không thu được tri thức mới, không mang lại sự hiểu biết mới về xã hội thì không được coi là nghiên cứu cơ bản.

- Có loại nghiên cứu cơ bản thuần tuý tức là nghiên cứu về bản chất của sự vật để nâng cao nhận thức mà chưa bàn đến ý nghĩa ứng dụng. Còn loại nghiên cứu cơ bản định hướng là những nghiên cứu cơ bản đã dự định trước mục đích ứng dụng.

- Người ta không phân loại khoa học cơ bản và khoa học ứng dụng mà chỉ phân biệt nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng trong khoa học. Nghiên cứu khoa học luôn có sự đan xen giữa nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng. Vì vậy, việc phân loại nghiên cứu cơ bản trong KHXH và nghiên cứu ứng dụng chỉ có tính chất tương đối. Mỗi công trình khoa học thường đan xen hai phần : phần đi sâu vào cơ sở lý luận và cơ sở phương pháp luận thường thiên về nghiên cứu cơ bản, phần đề xuất kiến nghị với Đảng và Nhà nước là phần thiên về ứng dụng.

Có những môn KHXH nặng về nghiên cứu cơ bản như: Triết học , Chính trị học, Đạo đức học, Tâm lý học, lý luận văn học v.v…Có những môn KHXH nặng về nghiên cứu ứng dụng như: Xã hội học, các kinh tế học chuyên ngành, Khảo cổ học, Dân tộc học v.v…Tuy vậy, trong bất kỳ môn KHXH nào đều có cả nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng, có cả nghiên cứu lý thuyết và nghiên cứu thực nghiệm, có cả cơ sở lý luận và cơ sở phương pháp luận, có cả phương pháp nghiên cứu và cách tiếp cận khác nhau. Có như vậy thì bản thân KHXH mới phát triển được và mới phục vụ cho sự phát triển của xã hội, trong đó nghiên cứu cơ bản đóng vai trò làm nền tảng cho mọi quá trình nghiên cứu và ứng dụng . Vì nó 1.cung cấp cho xã hội hệ thống các tri thức cơ bản; 2.làm cơ sở để xây dựng các lý thuyết và xây dựng các ngành  KHXH; 3.góp phần nâng cao dân trí; 4.làm cơ sở để đổi mới các chương trình giáo dục và đào tạo về các bộ môn KHXH.Ý kiến1: Đây là một vấn đề có tính truyền thống lâu đời, nhưng vẫn mang tính mới mẻ và thời sự. Nếu như bàn luận một cách sâu sắc thì cũng còn nhiều vấn đề phức tạp, có thể có nhiều quan điểm khác nhau.

Tiếp cận khái niệm khoa học:

Hiện nay, có nhiều quan niệm khác nhau về khái niệm khoa học.

- Tiếp cận từ phía Triết học: Xem khoa học như một trong những hình thái ý thức xã hội phản ánh và tác động trở lại tồn tại xã hội, giúp con người nhận thức, cải tạo và sáng tạo hiện thực.

- Tiếp cận từ khoa học luận: Xem khoa học như một hiện tượng xã hội đặc thù, một thể chế xã hội nghiên cứu sự hình thành, phát triển của khoa học, các tổ chức khoa học, tổ chức nghiên cứu khoa học, quản lý hoạt động khoa học cấp quốc gia, quốc tế v.v…

- Quan điểm nhận thức luận: Có tính phổ biến, chung nhất, coi khoa học như là một hệ thống tri thức bản chất, quy luật vận động của tự nhiên xã hội và tư duy.

- Quan điểm coi khoa học như một “lực lượng sản xuất trực tiếp”: Xem khoa học như một hoạt động đặc thù của con người, góp phần thúc đẩy sự tiến bộ và phát triển của kinh tế - xã hội.

Quán triệt quan điểm thực tiễn nói trên, các văn kiện, các Nghị quyết của Đảng và Nhà nước ta coi: “giáo dục là quốc sách hàng đầu, đầu tư cho giáo dục và cho khoa học là đầu tư cho sự phát triển bền vững”…

Tiếp cận khoa học xã hội và khoa học nhân văn:

 - Ph.Ăng ghen đã nêu lên cách phân loại khoa học có tính kinh điển, phân loại khoa học theo đối tượng nghiên cứu: Các khoa học nghiên cứu các bản chất và quy luật vận động của thế giới từ các vận động của thế giới tự nhiên, xã hội đến vận động của tư duy. Nhà phân loại khoa học của Liên Xô cách đây nửa thế kỷ M.B.Kêđrôv phát triển ý tưởng của Ph.Angghen đã mô hình hoá hệ thống tri thức khoa học bằng một tam giác với 3 đỉnh: các khoa học tự nhiên, các khoa học xã hội nhân văn, các khoa học kỹ thuật trong mối quan hệ với triết học.

- Tiếp cận tới khoa học xã hội nhân văn cần đứng trên quan điểm tiếp cận hệ thống, tiếp cận phức hợp, tiếp cận xã hội - lịch sử, tiếp cận thực tiễn. Trong đó cần đứng trên quan điểm kinh điển mà C.Mác đã nêu trong “Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844”: “Khoa học tự nhiên bao hàm trong đó khoa học về con người, cũng như khoa học về con người bao hàm trong đó khoa học tự nhiên”. Theo đó con người là khách thể đặc biệt của nhiều khoa học.

- Con người cần được xem xét trên nhiều cấp độ: con người sinh vật, con người xã hội, con người cá nhân và con người xã hội, con người lịch đại, (truyền thống), con người đương đại (con người đương thời).

Trong “Hệ tư tưởng Đức” C.Mác đã nói: Tiền đề xuất phát của chúng ta khi nghiên cứu về con người là:

1) Xuất phát từ những cá nhân có thực (không phải là con người chung chung trừu tượng).

2) Xuất phát từ hoạt động của họ

3) Xuất phát từ điều kiện sinh hoạt vật chất của họ.

Vì thế, con người cần được xem xét trên nhiều cấp độ: con người cá thể, cá nhân, con người chủ thể, con người nhân cách, con người xã hội, con người cộng đồng. Cần tiếp cận con người trên các cấp độ sinh thể - tâm lí - xã hội với tư cách con người là một “sinh vật văn hoá xã hội”. Con người mang bản chất nhân bản - nhân văn - xã hội. Vì thế cần tiếp cận con người trên các cấp độ: nhân chúng, nhân bản, nhân văn - xã hội trên quan điểm nhân học (Anthropology). Cần nghiên cứu con người về khía cạnh sinh thể, tâm lý, xã hội, lịch sử, văn hoá, ngôn ngữ, khoa học, kỹ thuật và công nghệ, kinh tế, xã hội v.v…

- “Giá trị người” là bậc thang giá trị cao nhất của nhân loại. Cùng với hệ thống tư tưởng chính trị, văn hoá, con người mang trong bản chất của mình hệ thống động lực (nhu cầu, động cơ, định hướng giá trị, thế giới quan niềm tin), hệ thống hành vi, lối sống, thói quen (tính cách, phong cách, cốt cách…). Con người thể hiện rõ giá trị sống của mình trong hệ thống “năng lực người”: Sinh lực (BQ); Tâm lực; Trí lực: trí thông minh (IQ), trí sáng tạo (CQ), trí tuệ cảm xúc (EQ), trí vượt khó (AQ), trí thành đạt (SQ). Tổng hợp các mặt sinh lực, tâm lực, trí lực cho ta “năng lực hoạt động” của con người. Vì thế các khoa học nhân văn và xã hội cần đặc biệt quan tâm nghiên cứu, hình thành, phát triển và phát huy giá trị người trong thực tiễn.

 

Ý kiến 2: 

* Về các khái niệm "Khoa học cơ bản" và "Khoa học xã hội và nhân văn".

1. Khái niệm Khoa học. Khoa học là một phương thức, một hình thức nhận thức thế giới của con người. Loài người nhận thức thế giới bằng hai phương thức chủ yếu, đó là Khoa học và Nghệ thuật và thứ ba là Tôn giáo. Khoa học nhận thức thế giới bằng khái niệm, phạm trù, hệ thống logic, xây dựng thành lý thuyết khoa học. Nghệ thuật nhận thức thế giới bằng hình tượng - bằng cảm quan, xúc cảm thẩm mỹ, hình thành hệ thống hình tượng có tính trực giác để phản ánh, đi sâu vào bản chất của thể giới. Tôn giáo là một loại hình nhận thức thế giới bằng niềm tin, thông qua hệ thống biểu trưng có tính linh nghiệm, thậm chí hoang đường, thần thánh, tâm linh. Ơ đây chỉ bàn về nhận thức (phản ánh) khoa học.

2. Nhận thức thế giới bằng khoa học tự nhiên: Toán học, Vật lý học, Hoá học, Sinh học, v.v...Trong Toán học có toán học cơ bản: nghiên cứu bản chất của tính toán thông qua các mối quan hệ giữa các số lượng, đại lượng, v.v... hình thành các lý thuyết toán học; có toán học chuyên ngành: Toán thống kê, Toán xác suất, Toán kinh tế, v.v.. Trong Vật lý học có vật lý học cơ bản: nghiên cứu bản chất, mối quan hệ, quy luật vận động, nguyên lý phát triển của thế giới vật chất, hình thành các hệ thống lý thuyết về vật lý; có vật lý chuyên ngành: Vật lý hạt nhân, Vật lý lượng tử, Vật lý địa cầu, v.v...Hoá học cơ bản: nghiên cứu bản chất, quy luật vận động, chuyển hoá của các nguyên tố hoá học trong giới tự nhiên; còn hoá học chuyên ngành: Hoá sinh, Hoá dược, Hoá thực phẩm, v.v...

3. Thế giới có một hình thức phát triển cao nhất - đó là xã hội loài người. Các khoa học nghiên cứu các khía cạnh chủ yếu của xã hội, đó là các khoa học xã hội cơ bản. Lịch sử học (Khoa học về lịch sử loài người) - nghiên cứu quá trình hình thành, quy luật vận động và phát triển của xã hội. Triết học - nghiên cứu những quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội, tư duy (con người). Chính trị học - nghiên cứu bản chất, quy luật hình thành và phát triển của đời sống chính trị. Kinh tế học - nghiên cứu bản chất, các quy luật vận động và phát triển của đời sống kinh tế. Văn hoá học - nghiên cứu bản chất và các quy luật vận động của đời sống văn hoá. Xã hội học - nghiên cứu xã hội với tư cách một sản phẩm phát triển triển cao nhất của giới tự nhiên. Chủ nghĩa xã hội khoa học- khoa học nghiên cứu xã hội ở hình thái phát triển cao của xã hội loài người. Nhân loại học - nghiên cứu bản chất loài người, quá trình hình thành các chủng loại người trên trái đất. Ngôn ngữ học - nghiên cứu bản chất ngôn ngữ loài người, quá trình hình thành các loại ngôn ngữ của các tộc người. Tâm lý học - nghiên cứu đời sống tâm lý, tinh thần của con người, quy luật tâm lý cá nhân, cộng đồng, dân tộc, v.v...

4. Khoa hội xã hội và nhân văn cơ bản là các khoa học nghiên cứu  các khía cạnh cơ bản nhất của xã hội loài người, trong đó có con người:  Về xã hội loài người; Về nhân loại và nhân chủng, Về kinh tế, Về văn hoá, Về ngôn ngữ, Về tâm lý, Về đạo đức, Về thẩm mỹ, v.v... Như vậy, nói "Khoa học xã hội" là đủ - ở đó đã bao hàm tất cả các khía cạnh, lĩnh vực xã hội - con người (nhân văn). Ơ Việt Nam, gọi "Khoa học Xã hội và Nhân văn" bao gồm các khoa học cơ bản về Xã hội: Lịch sử học, Triết học, Chính trị học, Kinh tế học, Xã hội học (lĩnh vực xã hội trong toàn xã hội!), v.v.. các khoa học cơ bản về Nhân văn: Nhân học, Tâm lý học, Ngôn ngữ học, Văn hoá học, Đạo đức học, Thẩm mỹ học, v.v...Trong Khoa học Xã hội và Nhân văn, Triết học là khoa học cơ bản đặc thù; nó không chỉ nghiên cứu cơ bản về xã hội, mà cả tự nhiên - "Triết học nghiên cứu các quy luật chung nhất về thế giới - tự nhiên, xã hội, tư duy" (con người).

Ngoài khoa học Tự nhiên, khoa học Xã hội và Nhân văn, còn có Khoa học- Kỹ thuật, Khoa học - Công nghệ. Khoa học - Kỹ thuật, Khoa học - Công nghệ không phải là khoa học cơ bản. Đây là loại khoa học ghép nối  giữa khoa học và kỹ thuật, giữa khoa học và công nghệ. Khoa học - Kỹ thuật lấy thành tựu, sản phẩm của Khoa học để sáng tạo, phát minh ra Kỹ thuật - Khoa học nghiên cứu vũ trụ để tạo ra kỹ thuật chinh phục vũ trụ; Toán học và Vật lý học nghiên cứu lý thuyết để tạo ta kỹ thuật chế tạo máy, kỹ thuật điện toán, kỹ thuật hạt nhân, kỹ thuật quân sự, v.v.. Khoa học - Công nghệ - lấy thành tựu, sản phẩm của Khoa học và Kỹ thuật để tạo ra các sản phẩm Công nghệ, đưa thành tựu khoa học, kỹ thuật vào quá trình sản xuất, v.v...

* Quan niệm và đặc điểm của nghiên cứu cơ bản về khoa học xã hội và nhân văn

Nghiên cứu cơ bản Khoa học xã hội và nhân văn là nghiên cứu các khoa học xã hội và nhân văn cơ bản: Nó nghiên cứu về xã hội loài người theo  các khía cạnh chung nhất của từng môn khoa học, ở tầm bản chất, quy luật hình thành, vận động, phát triển của xã hội loài người với tư cách là sản phẩm phát triển cao nhất của giới tự nhiên (theo quan điểm macxit), trong đó có con người. Đó là các khoa học: Lịch sử học, Triết học, Kinh tế học, Xã hội học, Chính trị học; Nhân học, Tâm lý học, Ngôn ngữ học, Văn hoá học, Đạo đức học, Thẩm mỹ học, v.v... Nó không nghiên cứu các khoa học xã hội và nhân văn không cơ bản.  Chẳng hạn:

Lịch sử học (khoa học cơ bản) - nghiên cứu bản chất, quá trình nẩy sinh, vận động, phát triển, các quy luật của lịch sử loài người. Còn Lịch sử kinh tế nông nghiệp, Lịch sử văn hoá Việt Nam, Lịch sử quân sự và Lịch sử ngoại giao Việt Nam - không cơ bản, mà là lịch sử chuyên ngành.

Xã hội học (cơ bản) - nghiên cứu bản chất xã hội, nguồn gốc nẩy sinh, hình thành, các quy luật vận động, xu hướng phát triển của xã hội; nghiên cứu chủ nghĩa xã hội như một hình thái kinh tế - xã hội (theo quan điểm macxit). Còn nghiên cứu xã hội nông thôn, phân tầng xã hội, cơ cấu giai cấp, v.v. - không cơ bản, mà là chuyên ngành.

Chính trị học (cơ bản) nghiên cứu bản chất, sự nẩy sinh, quy luật vân động và phát triển của đời sống chính trị; nguyên lý sử dụng và thực thi quyền lực chính trị, v.v... Còn nghiên cứu các sự kiện chính trị thế giới, chính trị Việt Nam, v.v. đó là nghiên cứu chính trị chuyên ngành.     

Triết học với tư cách khoa học cơ bản cũng khác với triết học chuyên ngành: Triết học cơ bản - nghiên cứu các quy luật chung nhất của thế giới - tự nhiên, xã hội, tư duy. Cùng với triết học cơ bản còn có các triết học chuyên ngành: Thí dụ: Lịch sử triết học, Triết học về tư duy - logíc học; Triết học đạo đức - Đạo đức học, Triết học thẩm mỹ - Thẩm mỹ học, Triết học về khoa học tự nhiên, Triết học về văn hoá, v.v..

 Các khoa học chuyên ngành nêu trên, nếu tiếp cận và nghiên cứu từ phương diện bản chất và quy luật của chúng, cũng lại trở thành khoa học cơ bản. Thí dụ:

 -Logíc học là chuyên ngành của triết học, nhưng khi nghiên cứu bản chất và các quy luật của tư duy thì nó trở thành nghiên cứu cơ bản; còn nghiên cứu tư duy của người phương Đông, tư duy nghệ thuật, đặc điểm tư duy tiểu nông, v.v.. lại là nghiên cứu cụ thể.

 -Đạo đức học là chuyên ngành của triết học cơ bản, nhưng khi nghiên cứu bản chất và các quy luật đạo đức...là nghiên cứu cơ bản; còn nghiên cứu đạo đức Khổng giáo, đạo đức lối sống...lại là nghiên cứu đạo đức cụ thể.

  -Mỹ học là chuyên ngành của triết học cơ bản, khi nghiên cứu bản chất và các quy luật thẩm mỹ của con người...là nghiên cứu cơ bản; con  nghiên cứu thẩm mỹ trong hội hoạ, trong âm nhạc, thẩm mỹ người Tây Nguyên, v.v. là nghiên cứu thẩm mỹ cụ thể.

 -Văn hoá học nghiên cứu bản chất và các quy luật chung nhất của đời sống văn hoá. Còn văn hoá chính trị, văn hoá pháp luật, văn hoá lao động, văn hoá kinh doanh, văn hoá quân sự, v.v..là nghiên cứu văn hoá cụ thể.

 Những luận chứng nêu trên cho thấy rằng, bất kỳ một khía cạnh nào, lĩnh vực nào của đời sống xã hội (đang bàn về xã hội)  cũng có thể trở thành vấn đề (khoa học) nghiên cứu cơ bản. Chỉ có điều, nghiên cứu cơ bản có những cách tiếp cận, nội dung nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu đặc thù của nó.

 Nghiên cứu cơ bản một vấn đề, một đối tượng từ góc độ triết học. Bất kỳ vấn đề, đối tượng nào trong xã hội cũng có thể trở thành vấn đề nghiên cứu cơ bản; Thí dụ:

 Vấn đề (hoặc đối tượng) Con người: Nghiên cứu cơ bản tiếp cận con người với tư cách một thực thể trong giới tự nhiên, trong vũ trụ, trong một xã hội, nghiên cứu bản chất con người, các nguyên lý tồn tại và phát triển con người đó với các đặc điểm tộc người, cấu trúc nhân cách, v.v.. Còn nghiên cứu môi trường, điều kiện sống của con người để đề ra chính sách phát triển con người lại không là nghiên cứu cơ bản nữa.     

Nghiên cứu cơ bản về kinh tế: đó là tìm ra bản chất của kinh tế, các mối quan hệ, các quy luật quy định đời sống kinh tế, những phương thức quản lý kinh tế đem lại hiệu quả và lợi nhuận của một nền kinh tế, làm cho phát triển xã hội, v.v.. Nhưng nếu nghiên cứu về kinh doanh của một xi nghiệp thì đó là nghiên cứu kinh tế ứng dụng.

 Tương tự, vấn đề (hoặc đối tượng) Văn hoá: Nghiên cứu văn hoá như một sản phẩm của loài người với bản chất và những đặc trưng của nó, tạo nên các bản sắc riêng của từng dân tộc, cộng đồng, v.v.. đó là nghiên cứu cơ bản. Còn nghiên cứu các hiện tượng văn hoá: trong lối sống, trong lao động, trong chiến đấu, v.v..lại không là nghiên cứu cơ bản nữa.

 

Ý kiến 4:

Từ nghiên cứu được bắt nguồn từ người Pháp thời Trung cổ  faire des recherches với nghĩa làm tìm kiếm, phát hiện, tìm hiểu  cặn kẽ một vấn đề, sự kiện nào đó. Cho đến nay, nghiên cứu được thừa nhận là công việc tìm tòi, suy xét kỹ lưỡng nhằm nắm chắc một vấn đề nào đó phục vụ cho mục đích nào đó được xác định. Ví dụ, nghiên cứu xem các dạng, hậu quả của biến đổi khí hậu hiện nay diễn ra như thế nào?

          Từ cơ bản, được hiểu là “cái làm cơ sở cho toàn bộ các cái khác trong toàn bộ hệ thống” ...hoặc : “cái có tác dụng làm cơ sở cho những cái khác trong toàn bộ hệ thống”[1]

          Vậy nghiên cứu cơ bản là gì? “Nghiên cứu cơ bản là nghiên cứu nền tảng (fundamental), là nghiên cứu thuần túy (pure) được thực hiện bởi sự tò mò hoặc đam mê của nhà khoa học”[2]. Khi nói đến nghiên cứu cơ bản, hàm ý là nói đến nghiên cứu khoa học. Đây là một hoạt động phức tạp của con người mà bản chất của nó là hoạt động sáng tạo của các nhà khoa học nhằm nhận thức thế giới, tạo ra các hệ thống tri thức cần thiết, những giá trị tinh thần và vật chất giúp con người sử dụng cải tạo thế giới nhằm thoả mãn nhu cầu sống của con người.

          Nghiên cứu cơ bản theo quan niệm của Quỹ phát triển khoa học và công nghệ quốc gia (NAFOSTED) (theo QĐ 03/QĐ-HĐQLQ ngày 8-4-2010):

          Quỹ tài trợ các đề tài nghiên cứu cơ bản thuộc các ngành Khoa học xã hội  và nhân văn là “các đề tài phù hợp với các hướng nghiên cứu cơ bản trong KHXHNV do Quỹ công bố hàng năm bao gồm các loại đề tài sau:

          1)Đề tài mang tính phát hiện, khám phá lần đầu; 2) Đề tài nhằm phát triển các hướng nghiên cứu đã đạt được những kết quả bước đầu, các nghiên cứu chuyên sâu đã được Quỹ hoặc các nguồn khác hỗ trợ kinh phí; 3) Đề tài mang tính liên ngành, đa ngành”.

          Nghiên cứu cơ bản có vai trò rất quan trọng trong nghiên cứu khoa học ở chỗ:

          -Nghiên cứu cơ bản đem lại cho con người những hiểu biết chính xác đầu tiên (cho đến lúc ấy) về sự vật, hiện tượng. Hiểu biết thông thường thì có thể có nhiều và có thể sai lầm nhưng để hiểu biết chính xác về sự vật hiện tượng thì phải thông qua các nghiên cứu khoa học cơ bản về các sự vật, hiện tượng đó.

          - Để nắm vững được quy luật sự vật, hiện tượng khách quan nhằm đối phó, sử dụng chúng cho cuộc sống của con người thì phải tiến hành những nghiên cứu cơ bản về sự vật, hiện tượng (SVHT) đó cùng những vấn đề có liên quan khác. Nếu không thế, những hiểu biết của chúng ta về SVHT khách quan chỉ là bề ngoài, chúng ta không thể hoàn toàn điều khiển được nó và có thể sẽ phải trả giá vì những hiểu biết sai lầm của chính mình.

          Đặc điểm của nghiên cứu cơ bản:

          -Nghiên cứu cơ bản thường khó (phải bắt đầu từ đâu? đi vào phát hiện cái gì trước tiên?) đòi hỏi phải có một đội ngũ các nhà nghiên cứu chuyên sâu sắc sảo, trình độ cao, có bằng cấp, giầu kinh nghiệm;

          - Đòi hỏi phải có cơ sở vật cho nghiên cứu phù hợp cho việc tiến hành các nghiên cứu đặt  ra (như phòng thí nghiệm, các máy móc chuyên dụng…);

          - Đòi hỏi phải có kinh phí nhất định, nhiều khi các kinh phí này khó được định hình trước;

- Kết quả nghiên cứu khó được đánh giá ngay hiệu quả của nó (vì nhiều khi không đem lại lợi ích trực tiếp). Chỉ ở các cơ sở nghiên cứu có đội ngũ các nhà khoa học dày dạn kinh nghiệm, có người lãnh đạo biết nhìn xa, trông rộng thì mới hy vọng có thể thấy hết ý nghĩa của các công trình nghiên cứu này.

Sơ đồ sau cho thấy các loại hình (hình thức) của nghiên cứu khoa học:

 

 

 

 

 

Nghiên cứu cơ bản có ý nghĩa quyết định chi phối đến các loại hình nghiên cứu khác như nghiên cứu ứng dụng; nghiên cứu triển khai; nghiên cứu dự báo.

Nghiên cứu ứng dụng được thực hiện vận dụng các kết quả từ nghiên cứu cơ bản nhằm tạo ra những quy trình công nghệ mới, nguyên lý vận hành kỹ thuật và quản lý mới phục vụ cho phát triển kinh tế – xã hội.

Nghiên cứu triển khai nhằm đưa ra các quy trình áp dụng đại trà các kết quả nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng vào thực tiễn sản xuất và đời sống xã hội.

Nghiên cứu dự báo nhằm dự báo trước sự phát triển, biến đổi của bản thân SVHT; dự báo về khả năng ứng dụng cũng như dự báo về khả năng triển khai ứng dụng. Trong nghiên cứu dự báo có các cấp độ dự báo: dự báo cho 10 năm; từ 10-15 năm; từ 40-50 năm  và có thể có các dự báo cho cả một thế kỷ hoặc xa hơn (ví dụ các nghiên cứu về biến đổi của vỏ trái đất …).

 

 Về nghiên cứu cơ bản:

Người ta còn phân chia trong nghiên cứu cơ bản ra:

- Nghiên cứu cơ bản thuần túy: Nhằm phát hiện ra các tri thức cơ bản về SVHT mà loài người còn chưa được biết; phát hiện các lý thuyết khoa học mới từ các sự kiện khoa học này.

- Nghiên cứu cơ bản định hướng: Đó là từ các kết quả nghiên cứu cơ bản, chỉ ra việc có thể  ứng dụng vào cuộc sống và đi vào định hướng cơ bản cho các ứng dụng này.

Các cấp độ của nghiên cứu khoa học:

Trong nghiên cứu khoa học, có thể chỉ ra các cấp độ sau đây, áp dụng cho các loại hình nghiên cứu, trong đó có nghiên cứu cơ bản.

 

Trình độ mô tả:

 + Mô tả lại SVHT vốn như nó có nhưng không phải là một bài văn tả cảnh mà là các mô tả chi tiết, cứ liệu khoa học về các khía cạnh thuộc SVHT và bản thân SVHT này.

 

Trình độ giải thích:

     + Từ mô tả, nhà nghiên cứu đi vào  cắt nghĩa, giải thích các chi tiết, các sự kiện được khám phá. Nhờ giải thích, SVHT được nhìn nhận dường như đầy đủ hơn, có chiều sâu, làm cơ sở cho phát hiện các mối quan hệ và quy luật vốn có của SVHT;

     + Về cấp độ, trình độ này cao hơn trình độ mô tả.

 

Trình độ phát hiện, sáng tạo:

     + Phát hiện ra các quy luật về SVHT. Đây là các tri thức mới mang tính khám phá, sáng tạo của nhà nghiên cứu.

     + Đây có thể coi là trình độ cao nhất của một kết quả nghiên cứu.

     + Nếu như điều được phát hiện là hoàn toàn mới mẻ đối với loài người  cho đến thời điểm kết quả được công bố, thì đây chính là phát minh khoa học của nhân loại, có một ý nghĩa vô cùng lớn (Gần đây, các công trình nghiên cứu cứu về thị giác, về giác mạc, võng mạc nhằm đi đến khả năng loại bỏ vĩnh viễn bệnh mù mắt; các nghiên cứu về khống chế ung thư chẳng hạn…).

Ý kiến 5:

  1. Nghiên cứu khoa học được hiểu là một quá trình xem xét, tìm hiểu, phân tích, khám phá, lý giải nhằm nhận thức đúng đắn, đầy đủ, sâu sắc hơn bản chất, quy luật của các sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan. Đúng như V.I.Lênin đã khẳng định: "Tư tưởng của người ta đi sâu một cách vô hạn, từ hiện tượng đến bản chất, từ bản chất cấp một, nếu có thể nói như vậy, đến bản chất cấp hai, v.v. cứ như thế mãi"[3].

Nhận thức của con người bao gồm một hệ thống tri thức dược hình thành trong lịch sử và không ngừng phát triển trên cơ sở thực tiễn xã hội. Hệ thống tri thức bao gồm: Tri thức kinh nghiệm và tri thức lý luận khoa học. Tri thức kinh nghiệm nảy sinh trực tiếp từ thực tiễn và được con người không ngừng sử dụng và phát triển trong hoạt động thực tiễn. Tri thức kinh nghiệm tuy đã có tính trừu tượng và khái quát, song chưa thật sự đi sâu vào bản chất, chưa thấy được hết các thuộc tính của sự vật và mối quan hệ bên trong giữa các sự vật, hiện tượng. Vì vậy, tri thức kinh nghiệm chỉ phát triển đến một giới hạn nhất định, tri thức kinh nghiệm nhất định phải phát triển lên thành tri thức lý luận khoa học.

Tri thức lý luận khoa học mang tính trừu tượng và khái quát cao nên nó đem lại sự hiểu biết sâu sắc về bản chất, quy luật của các sự vật, hiện tượng. Tri thức khoa học có được là nhờ hoạt động nghiên cứu khoa học. Các hoạt động nghiên cứu này có mục tiêu, đối tượng xác định và sử dụng các phương pháp nghiên cứu để khám phá đi sâu vào bên trong sự vật, hiện tượng, nhằm phát hiện ra những tri thức mới về bản chất, quy luật, … về tự nhiên, xã hội và tư duy. Những tri thức mới này là những khám phá mới, những kết luận hoặc giả thuyết mới, có thể là sự bổ sung, hoàn thiện tri thức đã có.      

 Trong nghiên cứu khoa học người ta lại phân ra nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng. Nghiên cứu cơ bản là sự nghiên cứu được thực hiện bởi sự tò mò, sự đam mê, động lực trí tuệ của nhà khoa học để trả lời những câu hỏi khoa học. Nghiên cứu ứng dụng là sự nghiên cứu vận dụng kết quả nghiên cứu cơ bản để giải quyết các vấn đề thực tế, phục vụ trực tiếp nhu cầu con người. Nghiên cứu cơ bản đặt nền tảng cho nghiên cứu ứng dụng tiếp bước. Nếu coi nghiên cứu cơ bản là bước đi trước thì sự tiếp nối kết quả nghiên cứu cơ bản chính là nghiên cứu ứng dụng phục vụ nhu cầu con người.

Theo tôi, về mặt nhận thức luận, cần khẳng định sự đồng nhất, đồng thời chỉ rõ sự khác biệt giữa nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng. Về sự đồng nhất biểu hiện, cả nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng đều khám phá tri thức mới về bản chất, quy luật; đều tìm tòi, xây dựng lý thuyết mới; đều sử dụng phương pháp "trừu tượng khoa học". Về sự khác biệt biểu hiện trên những vấn đề sau:

Thứ nhất, Nghiên cứu cơ bản hay còn gọi là nghiên cứu nền tảng, có tính chất nghiên cứu thuần tuý, trả lời các câu hỏi khoa học thuần tuý, nó là cái gì? Nghiên cứu cơ bản có thể hiểu theo nghĩa "nhận thức vị nhận thức", có thể không có tính cấp thiết về thực tiễn. Nghiên cứu cơ bản mang tính "học thuật" cao, tính "hàn lâm" sâu sắc. Còn nghiên cứu ứng dụng trả lời câu hỏi nó là cái gì, để làm gì? Giải quyết vấn đề thực tiễn gì?

  Thứ hai, Nghiên cứu cơ bản để mở rộng kiến thức đi sâu từ bản chất cấp một, đến bản chất cấp hai, cấp ba và mãi mãi. Động lực nghiên cứu cơ bản chỉ là động lực trí tuệ, xuất phát từ sự đam mê khoa học, không có hợp đồng kinh tế, không có lợi nhuận, có thể rất khó khăn trong đầu tư ngân sách.

 

 Thứ ba, Nghiên cứu cơ bản không xác định được thời gian, không có thời hạn hoàn thành. Còn nghiên cứu ứng dụng sẽ xác định thời hạn hoàn thành, thấy được kết quả trong một thời gian nhất định, cũng có thể hàng chục năm.       

Thứ tư, Nghiên cứu cơ bản có thể không sử dụng thành tựu khoa học đã có làm cơ sở. Nếu có sử dụng cũng phải được nghiên cứu lại, phát hiện lại. Ví dụ, nghiên cứu cơ bản trong Khoa học xã hội và nhân văn, nếu có dựa vào kinh điển cũng phải phân tích lại từ gốc gác, phải kế thừa với tính phê phán rất cao. Còn nghiên cứu ứng dụng thì dựa vào cơ sở lý luận, cơ sở khoa học đã có làm căn cứ vận dụng vào thực tiễn.

Thứ năm, Nghiên cứu cơ bản là nghiên cứu cái chưa có ai nghiên cứu, hoặc chưa có ai nghiên cứu thành công. Quá trình nghiên cứu cơ bản có thể thành công, có thể không thành công.

Thứ sáu, Không phải ai cũng có khả năng nghiên cứu cơ bản, vậy nhà khoa học nào có khả năng nghiên cứu cơ bản, và hơn nữa, ai là người sẽ nghiệm thu đánh giá kết quả nghiên cứu cơ bản. Có lẽ đánh giá kết quả nghiên cứu cơ bản, trước hết phải bằng chính phương pháp tư duy của nhà khoa học, thông qua phương tiện nghiên cứu, lấy "tư duy lôgic" làm tiêu chuẩn chân lý.

Ý kiến 6:

Thế nào là một nghiên cứu khoa học cơ bản? Đây là câu hỏi đầu tiên, rất quan trọng cần phải làm rõ. Bởi vì, hiện nay đang có nhiều định nghĩa, cách hiểu khác nhau thế nào là nghiên cứu cơ bản. Trên thực tế, còn nhiều người hiểu nghiên cứu cơ bản là nghiên cứu “cái chính, cái cơ sở, cái quan trọng…”. Hiểu như vậy làm cho các cơ quan quản lý và cả những người nghiên cứu cũng gặp nhiều lúng túng khi chọn và nghiên cứu một vấn đề khoa học cơ bản.

Mặc dầu vậy, hiện nay trong giới khoa học cũng đã có nhiều ý kiến nhất trí cho rằng một nghiên cứu khoa học được xem là nghiên cứu cơ bản khi nó nhằm mục đích kiểm tra một giả thuyết khoa học (một lý thuyết) có tính chất bao quát, mang tính chung nhất, có thể áp dụng để giải thích nhiều hiện tượng, quá trình hay khách thể trong hiện thực, trả lời các câu hỏi: Hiện tượng đó xảy ra như thế nào? Vì sao? Theo cơ chế vận hành nào? Theo đó, các nghiên cứu khoa học nào chỉ đem lại thông tin mô tả đối tượng thì không thể gọi là một nghiên cứu cơ bản. Một trong những dấu hiệu đặc trưng nhất của nghiên cứu cơ bản (tính cơ bản) là nó phải trên cơ sở bám theo và giải quyết một “giả thiết khoa học”. Bởi vì giả thiết khoa học là yếu tố kiến tạo nên nghiên cứu, định hướng cho nghiên cứu nhằm phát hiện ra tính quy luật vận động của đối tượng. UNESCO cho rằng các nghiên cứu cơ bản là các nghiên cứu khoa học nhằm phát hiện ra các quy luật của tự nhiên, xác lập các mối liên hệ giữa hiện tượng và khách thể của thế giới hiện thực.

Chức năng chủ yếu của các nghiên cứu cơ bản là nhận thức, nhận biết về các quy luật chung của sự vật, hiện tượng xảy ra trong tự nhiên, xã hội và tư duy. Dấu hiệu khẳng định một nghiên cứu cơ bản là tạo ra một học thuyết, các luận điểm có tính học thuyết, một quan niệm khoa học. Nghiên cứu cơ bản có tính bao quát lớn cả về không gian và thời gian. Những dấu hiệu này không làm mất đi ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu cơ bản mà ngược lại, nó mở ra cả một loạt các con đường, các hướng giải quyết nhiều vấn đề thực tiễn đặt ra. Ví dụ, cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 ở nước ta đã có nhiều tư tưởng, quan điểm về  về cách mạng Việt Nam như tư tưởng cứu nước của phong trào Cần vương, quan điểm của Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Nguyễn Thái Học… Nhưng tất cả các tư tưởng, quan điểm đó đều thất bại trong thực tiễn do chưa phát hiện đúng quy luật của cách mạng Việt Nam. Chỉ đến khi Chủ tịch Hồ Chí Minh  dày công nghiên cứu các cuộc cách mạng tư sản để tìm hiểu nguyên nhân không thành công của chúng, khi gặp được tư tưởng của V.I Lênin về cách mạng ở các nước thuộc địa, cuối cùng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát hiện ra quy luật của cách mạng trong thời đại ngày nay là: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản “([4]) . Vận dụng vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, Người khẳng định độc lập dân tộc phải gắn liền với chủ nghĩa xã hội là quy luật phát triển tất yếu của cách mạng Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ, cách mạng Việt Nam phải trải qua hai giai đoạn “làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”([5]). Như vậy, rõ ràng nghiên cứu cơ bản là hoạt động nghiên cứu của nhà khoa học (lý thuyết hoặc thực nghiệm) nhằm khám phá ra các tri thức mới về các tính quy luật cơ bản, về cấu trúc, vận hành, phát triển của con người, tự nhiên, xã hội.

Nghiên cứu cơ bản, nhìn từ góc độ năng lực khoa học của nhà nghiên cứu đó là năng lực nhìn xuyên qua hình thức bên ngoài của sự vật, hiện tượng để thấy cái bản chất bên trong của đối tượng. Năng lực tư duy khoa học của nhà nghiên cứu các công trình cơ bản yêu cầu rất cao về khả năng sáng tạo, phương phát nhận thức mới. Nó cũng yêu cầu những điều kiện làm việc đặc thù, hệ thống kiểm định, đánh giá kết quả khác với các nghiên cứu khoa học khác. Các nghiên cứu khoa học cơ bản đòi hỏi tính dài hơi, chi phí lớn và tính cách biệt tương đối với thực tiễn.

Về hình thức nghiên cứu cơ bản cũng rất đa dạng, phong phú. Nó có thể là các dự án nghiên cứu lớn của quốc gia, bộ, ngành, cơ quan nghiên cứu khoa học, hay của một nhà nghiên cứu; hoặc có thể là các chuyên khảo, các ấn phẩm xuất bản khoa học như các bách khoa thư, từ điển liên ngành, chuyên ngành, các chuyên khảo, các bài báo khoa học, các luận văn, luận án… Vấn đề chủ yếu là các ấn phẩm xuất bản đó có nội dung phản ánh việc nghiên cứu giải quyết một giả thuyết khoa học nào đó.

Xét ở góc độ quản lý khoa học, các nghiên cứu cơ bản thường được nhà nước, các cơ quan, ban, ngành quan tâm đầu tư và tổ chức quản lý riêng  nhằm tạo điều kiện tốt cho các nghiên cứu này được triển khai vì chúng thường đòi hỏi đầu tư lớn, dài hạn và mực độ rủi ro là rất lớn.

Ý kiến 7:

Nghiên cứu (Study, Reseach, Investigation) là một dạng hoạt động của con người, nhưng không phải mọi hoạt động đều là nghiên cứu. Dạy và học không phải là nghiên cứu[6]. Nhận thức thông thường hàng ngày không phải là nghiên cứu. Lao động chân tay, giản đơn không phải là nghiên cứu. Hoạt động tái tạo không phải là nghiên cứu. Giao tiếp hàng ngày, vui chơi giải trí không phải là nghiên cứu. Nghỉ ngơi thì càng không phải là nghiên cứu. Bởi vì, nghiên cứu là một dạng hoạt động đặc biệt, một năng lực nhận thức, tư duy và hành động chuyên tâm, chuyên cần, chuyên môn nhằm tạo ra sản phẩm mới so với những khuôn mẫu sẵn có của nhận thức, tư duy và hành động thông thường hàng ngày. Nghiên cứu trong Triết học và Khoa học cụ thể là dạng hoạt động sáng tạo, hoặc là phát hiện hoặc tổng kết để có tri thức mới, phương pháp mới, công nghệ mới.     

Theo quan niệm phổ biến hiện nay thì một cách sơ bộ người ta có thể xác định rằng nghiên cứu cơ bản (Fundamental Reseach) không phải là nghiên cứu ứng dụng (Applied Reseach), càng không phải là nghiên cứu triển khai (Development Reseach). Như vậy là người ta đã tạo ra đường phân ranh sơ bộ giữa nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu không cơ bản (bao gồm nghiên cứu ứng dụng và nghiên cứu triển khai). Nhìn vào cơ cấu đội ngũ những nhà nghiên cứu thì ta có thể nhận thấy một tình trạng là: năng lực nghiên cứu cơ bản chỉ có ở một số rất ít người, đó là năng lực quý hiếm[7]. Nghiên cứu ứng dụng thì nhiều người có thể tham gia ở các cấp độ và công đoạn khác nhau, đây là năng lực đại trà. Nghiên cứu triển khai càng để ngỏ khả năng cho nhiều người tham gia cùng một lúc hoặc vào các giai đoạn khác nhau, là năng lực phổ thông.

Như vậy, ở cấp độ định nghĩa sơ bộ về khái niệm "nghiên cứu cơ bản" ta đã thấy xuất hiện sự phân biệt giữa nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu không cơ bản (nghiên cứu ứng dụng và/hoặc nghiên cứu triển khai). Sự phân biệt này là tạo ra tình trạng đối/hợp (Dialogic) giữa nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu không cơ bản. Đối ở đây là nhị đối theo công thức hoặc là nghiên cứu cơ bản hoặc là nghiên cứu không cơ bản; còn Hợp ở đây là lưỡng hợp theo công thức vừa là nghiên cứu cơ bản vừa là nghiên cứu không cơ bản.

Muốn sáng tỏ các đặc trưng cơ bản của nghiên cứu cơ bản thì ta phải chuyển sang định nghĩa thực chất đối với khái niệm "Nghiên cứu cơ bản".

Định nghĩa thực chất

Xem xét định nghĩa về “Nghiên cứu cơ bản” trong Từ điển bách khoa Việt Nam: “Nghiên cứu cơ bản những hoạt động khoa học nhằm phát hiện các thuộc tính, các mối quan hệ, các quy luật khách quan của sự vật hay hiện tượng. Kết quả của nó biểu hiện ở việc tìm ra các thuộc tính, các hiện tượng mới, các mối quan hệ, các quy luật mới của hiện thực khách quan, xây dựng nên các suy luận logic, khái niệm, quan niệm, giả thuyết, lý thuyết mới nhằm phản ánh ngày càng sâu sắc hơn các thuộc tính khách quan vốn có của sự vật và hiện tượng”[8].

Trong định nghĩa này ta thấy có sự đồng nhất “nghiên cứu nói chung” với “nghiên cứu khoa học”, không phân biệt rõ “nghiên cứu cơ bản” với “nghiên cứu không cơ bản”. Tuy có ghi nhận một đặc trưng quan trọng của nghiên cứu cơ bản là "xây dựng nên các suy luận logic, khái niệm, quan niệm, giả thuyết, lý thuyết mới nhằm phản ánh sâu sắc hơn các thuộc tính khách quan vốn có của sự vật và hiện tượng", nhưng không phân biệt "cái mới cơ bản" và "cái mới không cơ bản". Ngoài ra, định nghĩa này vẫn chưa làm rõ được những đặc trưng cơ bản của nghiên cứu cơ bản trong Triết học và Khoa học cụ thể.

Với tư cách là một loại hình nghiên cứu, "Nghiên cứu cơ bản (Fundamental Research) là những nghiên cứu nhằm phát hiện về bản chất và quy luật của các sự vật hoặc hiện tượng trong tự nhiên, xã hội, con người…Kết quả của nghiên cứu cơ bản luôn là những phân tích lý luận, những kết luận về quy luật, những định luật, định lý, v.v…Cuối cùng, trên cơ sở những nghiên cứu này, người nghiên cứu đưa ra được những phát hiện, phát kiến, phát minh, xây dựng nên những cơ sở lý thuyết có giá trị tổng quát cho lĩnh vực hoạt động" (Vũ Cao Đàm. 1996: tr.33-34).

Nghiên cứu ứng dụng (Applied Research) là một loại hình nghiên khác với nghiên cứu cơ bản: "Nghiên cứu ứng dụng … là sự vận dụng các quy luật từ trong nghiên cứu cơ bản (thường là nghiên cứu cơ bản định hướng) để đưa ra nguyên lý về giải pháp, có thể bao gồm công nghệ, sản phẩm, vật liệu, thiết bị; nghiên cứu áp dụng các kết quả nghiên cứu ứng dụng vào trong một môi trường mới của sự vật và hiện tượng. Giải pháp được hiểu theo một nghĩa rộng nhất của thuật ngữ này: có thể là một giải pháp công nghệ, vật liệu, tổ chức, quản lý" (Vũ Cao Đàm. 1996: tr.38).

Nghiên cứu triển khai (Development Research) là loại hình nghiên cứu khác với hai loại hình nêu trên: "Trong một số tài liệu của UNESCO, hoạt động triển khai (Development) còn được gọi là triển khai thực nghiệm (Experimental Development) hoặc triển khai thực nghiệm kỹ thuật; trong Đương đại Khoa học Từ điển còn được gọi là nghiên cứu phát triển. Đặc trưng của triển khai là sự vận dụng các quy luật (thu được từ trong nghiên cứu cơ bản) và các nguyên lý (thu được từ trong nghiên cứu ứng dụng) để đưa ra các hình mẫu với những tham số đủ mang tính khả thi về kỹ thuật" (Vũ Cao Đàm. 1996: 39-40).

Sự khác biệt giữa nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu không cơ bản (nghiên cứu ứng dụng hoặc/và nghiên cứu triển khai) thể hiện ở đặc trưng đầu ra (các kết quả nghiên cứu), và ở đặc trưng đầu vào (các câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu). Bảng so sánh dưới đây sẽ cho thấy rõ điều đó:

Bảng 1:

So sánh đặc điểm của nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu không cơ bản

Loại hình và

Giả thuyết nghiên cứu

Nội dung

 

Nghiên cứu cơ bản

(Giả thuyết về quy luật)

Phát hiện quy luật của sự vật, hiện tượng:

- Tổng kết kinh nghiệm từ một sự vật

- Điều tra tổng thể về tự nhiên hoặc kinh tế và xã hội

- Nghiên cứu chuyên đề về bản chất của mọi sự vật

- Xây dựng các cơ sở lý thuyết về mọi sự vật

Nghiên cứu ứng dụng

(Giả thuyết về giải pháp)

Sáng tạo nguyên lý giải pháp hoạt động:

- Phương pháp điều hành một quá trình

- Luận chứng cho các biện pháp đạt mục tiêu

- Công nghệ trong công nghiệp

- Giải pháp chế biến vật chất hoặc thông tin

 

Triển khai

(Giả thuyết về hình mẫu)

Xây dựng một khuôn mẫu khả thi, có khả năng mở rộng quy mô áp dụng đại trà:

- Khuôn mẫu một phương pháp khả thi

- Khuôn mẫu một công nghệ khả thi

- Mẫu một sản phẩm khả thi

Nguồn: Vũ Cao Đàm. 1996. Phương pháp luận nghiên cứu khoa học. Nxb KH & KT. Hà nội. tr.133-134.

Tóm lại, thực chất của nghiên cứu cơ bản là một loại hình nghiên cứu tập trung chú ý vào các sự kiện cơ bản, tìm hiểu các vấn đề cơ bản, đặt ra các giả thuyết cơ bản nhằm khám phá bản chất sâu xa, phát hiện các quy luật nền tảng của sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội và tư duy; trên cơ sở đó, xây dựng các lý thuyết nền tảng làm kim chỉ nam cho hoạt động thực tiễn cải tạo thế giới của con người và loài người[9].

Định nghĩa đầy đủ

Trong định nghĩa thực chất ta chỉ vạch ra những đặc trưng cơ bản của đối tượng mà khái niệm phản ánh. Muốn có định nghĩa đầy đủ thì phải bổ sung thêm các đặc trưng không cơ bản của đối tượng đó. Đối với khái niệm "Nghiên cứu cơ bản" ngoài các dấu hiệu chủ yếu đã nêu trên ta có thể bổ sung thêm các dấu hiệu quan trọng sau đây (Trong sách đã trích dẫn của Vũ Cao Đàm, ta thấy Ông đã ghi nhận rằng):

"Nghiên cứu cơ bản có thể thực hiện trên cơ sở những nghiên cứu thuần tuý lý thuyết… Nghiên cứu cơ bản cũng có thể thực hiện dựa trên cơ sở những quan sát hoặc thí nghiệm, đo đạc những biểu hiện, ảnh hưởng và tác động của một quy luật chưa biết nào đó,… Các hoạt động nghiên cứu lý thuyết hoặc thực nghiệm trên đây được lặp đi lặp lại nhiều lần với những tham số thay đổi, cho đến khi tính đúng đắn của giả thuyết được khẳng định hoặc phủ định" (Vũ Cao Đàm. 1996: tr.33-34).

Như vậy, ta thấy rằng nghiên cứu cơ bản là một quá trình mâu thuẫn biện chứng, nghĩa là bao gồm 2 quá trình nghiên cứu lý thuyết cơ bảnnghiên cứu thực nghiệm cơ bản vừa đối lập vừa thống nhất với nhau. Tình trạng này có bản chất logic kép (Dialogic), tức là đối/hợp: một mặt là nhị đối (phép tuyển logic) theo công thức "hoặc là nghiên cứu lý thuyết cơ bản hoặc là nghiên cứu thực nghiệm cơ bản" mặt khác là lưỡng hợp (phép hội logic) theo công thức "vừa là nghiên cứu lý thuyết cơ bản vừa là nghiên cứu thực nghiệm cơ bản"[10]. Nghiên cứu cơ bản được phân ra thành hai loại: nghiên cứu cơ bản thuần tuý hoặc nghiên cứu cơ bản tự do và nghiên cứu cơ bản định hướng.

Nghiên cứu cơ bản thuần tuý còn được gọi là nghiên cứu cơ bản tự do, hoặc nghiên cứu cơ bản không định hướng. Đây là nghiên cứu chỉ mới nhằm mục đích duy nhất là tìm ra bản chất và quy luật của các hiện tượng tự nhiên và xã hội để nâng cao nhận thức, chưa có sự vận dụng nào vào một hoạt động cụ thể của con người.

Nghiên cứu cơ bản thuần tuý (tự do, không định hướng) nói chung mang tính chất cá nhân hoặc ít ra cũng do một nhà nghiên cứu có uy tín giữ vai trò chủ yếu. Trong trường hợp này nhà nghiên cứu là người có thể quyết định việc chọn lựa đối tượng nghiên cứu và tổ chức công việc nghiên cứu một cách độc lập, có thể không phụ thuộc vào một cấp quyết định nào[11].

Nghiên cứu cơ bản định hướng. Đây là những nghiên cứu cơ bản đã dự kiến trước mục đích ứng dụng…còn được gọi là nghiên cứu thăm dò…ví dụ…Pasteur đã làm một loạt thí nghiệm để kiểm chứng giả thuyết của Ông về một quy luật gây bệnh do vi khuẩn. Đây là một nghiên cứu cơ bản định hướng. Nghiên cứu này đã xác định rõ mục đích áp dụng là tìm cơ chế gây bệnh. Ông đã đi đến một giả thuyết rằng, nếu cơ thể bị nhiễm vi khuẩn yếu, thì động vật có khả năng đề kháng với loại bệnh do chính vi khuẩn đó gây ra.

UNESCO chia nghiên cứu cơ bản định hướng thành nghiên cứu nền tảng (Background Research) và nghiên cứu chuyên đề (Thematic Research):

Nghiên cứu nền tảng là những nghiên cứu dựa trên các quan sát, đo đạc để thu số liệu và dữ kiện nhằm mục đích tìm hiểu và khám phá quy luật của tự nhiên. Thuộc loại hình nghiên cứu nền tảng này có thể liệt kê một số dạng như nghiên cứu dịch tễ học trong  Y học nhằm mô tả sự phân bố sức khoẻ trong một cộng đồng dân cư, điều tra cơ bản tài nguyên và các điều kiện thiên nhiên như điều tra địa chất, nghiên cứu đại dương, khí quyển, khí tượng, tổng hợp các hoá chất, nghiên cứu bản chất vật lý, hoá học, sinh học của vật chất.

Nghiên cứu chuyên đề là nghiên cứu có hệ thống một hiện tượng đặc biệt của tự nhiên, ví dụ trạng thái plasma của vật chất, bức xạ vũ trụ, gien di truyền. Những loại nghiên cứu cơ bản định hướng thuộc dạng này không chỉ dẫn đến những cơ sở lý thuyết quan trọng, mà còn có thể dẫn đến những ứng dụng có ý nghĩa lớn lao trong hoạt động kinh tế và các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội" (Vũ Cao Đàm. 1996: 34-38).

Qua các bước định nghĩa khái niệm "nghiên cứu cơ bản" từ sơ bộ đến thực chất và đến đầy đủ, ta thấy rõ tình trạng nan đề (= vấn đề nan giải) thể hiện dưới dạng cặp đối/hợp khái niệm; chí ít là có 3 cặp đối/hợp khái niệm sau đây:

- Cặp đối/hợp "nghiên cứu cơ bản hoặc/và nghiên cứu không cơ bản (= nghiên cứu ứng dụng hoặc/và nghiên cứu triển khai);

- Cặp đối/hợp "nghiên cứu lý thuyết cơ bản hoặc/và nghiên cứu thực nghiệm cơ bản";

- Cặp đối/hợp "nghiên cứu cơ bản thuần tuý hoặc/và nghiên cứu cơ bản định hướng (= nghiên cứu nền tảng và/hoặc nghiên cứu chuyên đề)".

2. Các song đề trong quan niệm về nghiên cứu cơ bản

Có nhiều quan niệm về nghiên cứu cơ bản. Các quan niệm này không chỉ khác biệt nhau mà thậm chí có thể đối lập, loại trừ lẫn nhau, tạo thành song đề (Dilemma): Chính đề (Thesis) - Phản đề(Antithesis). Giữa các quan niệm về nghiên cứu cơ bản đã hình thành các song đề quan trọng sau đây:

- Quan niệm giản đơn hoặc/và Quan niệm phức hợp

Quan niệm giản đơn về nghiên cứu cơ bản tách rời hoàn toàn giữa nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu không cơ bản (tức là nghiên cứu ứng dụng và/hoặc nghiên cứu triển khai). Xu hướng này thường biểu hiện trong một số công trình nghiên cứu triết học và nghiên cứu khoa học cơ bản, nhất là trong thời kỳ triết học và khoa học cổ điển.

Quan niệm phức hợp về nghiên cứu cơ bản chống lại quan niệm đơn giản hoá nêu trên về nghiên cứu cơ bản, cho rằng ngay cả cái gọi là "nghiên cứu cơ bản thuần tuý" cũng không hoàn toàn là thuần tuý, do mối quan hệ giữa "thuần tuý" và "không thuần tuý" mamg tính mâu thuẫn biện chứng, nghĩa là mang tính đối/hợp logic: một mặt là đối lập, có thể loại trừ lẫn nhau, song mặt khác, lại có thể đan xen, xâm nhập, chuyển hoá lẫn nhau để tạo thành một chỉnh thể thống nhất giữa các mặt đối lập ấy. Quan hệ giữa nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu không cơ bản (nghiên cứu ứng dụng và/hoặc nghiên cứu triển khai) cũng có bản chất đối/hợp logic: vừa là nhị đối (giữa nghiên cứu cơ bản hoặc là nghiên cứu không cơ bản) vừa là lưỡng hợp (giữa nghiên cứu cơ bản nghiên cứu không cơ bản).

Quan niệm giản đơn và Quan niệm phức hợp về nghiên cứu cơ bản tạo ra tình trạng song đề (Dilemma): đó là tình trạng đối/hợp giữa chính đề (Thesis)phản đề (Antithesis). Điều này có ý nghĩa rằng sự đối lập, loại trừ lẫn nhau của hai quan niệm nêu trên không phải là tình trạng duy nhất. Bởi vì ngoài ra, còn có nhiều tình trạng khác, mang tính trung gian không kém phần quan trọng như: có thể kết hợp hai quan niệm nêu trên để có một quan niệm mới hợp lý, hợp tình hơn; hoặc có thể lựa chọn quan niệm chiết trung, hay nước đôi, vẹn cả đôi đường: vừa đơn giản vừa phức hợp trong một quá trình nghiên cứu lâu dài bao gồm nhiều giai đoạn hoặc trong một công trình tập thể bao gồm nhiều người với những cách tiếp cận khác nhau, bổ sung cho nhau.

- Quan niệm mácxít hoặc/và Quan niệm phi mácxít

Quan niệm mácxít về nghiên cứu cơ bản trong Triết học và Khoa học cụ thể dựa trên cơ sở quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác. Theo đó thì, những nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm về cơ sở vật chất tự nhiên, cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội luôn là những nghiên cứu cơ bản đặt nền tảng cho toàn bộ quá trình nhận thức (lý luận/khoa học) và hoạt động (thực tiễn/đời sống).

Quan niệm phi mácxít về nghiên cứu cơ bản dựa trên cơ sở quan điểm chống lại duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Có nhiều khuynh hướng phi mácxít như quan điểm duy tâm biện chứng và duy tâm lịch sử; quan điểm duy vật siêu hình hoặc duy tâm siêu hình; quan điểm chiết trung: chẳng duy vật cũng chẳng duy tâm, chẳng biện chứng cũng chẳng siêu hình;…Tất cả các khuynh hướng đa dạng này đều có một điểm chung là chống chủ nghĩa Mác, chống chủ nghĩa cộng sản do Mác đề xướng. Trong quan niệm về nghiên cứu cơ bản thì hoặc là cho rằng những nghiên cứu về cơ sở tinh thần, cơ sở văn hoá - xã hội cơ bản hơn so với những nghiên cứu về cơ sở vật chất, cơ sở kinh tế - xã hội; hoặc là cho rằng kết hợp cả hai loại hình nghiên cứu nêu trên mới thực sự là nghiên cứu cơ bản trong Triết học và Khoa học cụ thể.

Hai hệ quan niệm mácxít và phi mácxít về nghiên cứu cơ bản đã từng đối đầu trong lịch sử nghiên cứu triết học và khoa học cụ thể; tuy nhiên về sau và nhất là hiện nay đã chuyển sang đối thoại, thậm chí hợp tác với nhau; kết quả tạo ra một tình trạng song đề giữa "quan niệm mácxít hoặc/và quan niệm phi mácxít về nghiên cứu cơ bản". Tình trạng đối/hợp quan niệm này có nhiều biểu hiện đa dạng và phong phú: có đối cực (đối kháng), có đối trọng (vừa cạnh tranh vừa hợp tác), có nước đôi, chiết trung, "ba phải", có điều chỉnh hoặc thay đổi quan niệm ("nhạt đạo", "cải đạo" …).

- Quan niệm thực chứng hoặc/và Quan niệm phi thực chứng

Trong các khuynh hướng phi mácxít đã có sự phân đôi mâu thuẫn giữa quan niệm thực chứng và quan niệm phản thực chứng về nghiên cứu cơ bản.

Quan niệm thực chứng trên bình diện triết học thực chất là quan điểm chiết trung chủ nghĩa: không duy vật cũng chẳng duy tâm; họ muốn có đường lối thứ ba trong Triết học. Trên bình diện khoa học cụ thể, quan niệm thực chứng có điểm giống nhau với quan niệm mácxít khi họ đề cao quan điểm/tiếp cận toàn thể luận (Holistic Perspective/Approach) hơn là quan điểm/tiếp cận phi toàn thể luận (Non-Holistic Perspective/Approach). Những nhà thực chứng chủ nghĩa cho rằng nghiên cứu thực nghiệm là nghiên cứu cơ bản; mọi nghiên cứu lý thuyết đều phải theo nguyên tắc quy giản về cơ sở thực nghiệm, nếu làm trái nguyên tắc này hoặc thất bại trong chương trình quy giản về thực nghiệm thì nghiên cứu lý thuyết như thế là vô giá trị. Trong nghiên cứu quy giản thực nghiệm cơ bản, họ đề cao các công trình nghiên cứu về quy luật nhân quả và theo lược đồ phân tích - tổng hợp định lượng chính xác, chặt chẽ, đó chính là sơ đồ tương quan giữa các biến số phụ thuộc, độc lập, can thiệp nhằm nâng cao năng lực giải thích khách quan, khoa học.

Quan niệm phản thực chứng trên bình diện triết học có thể chống chiết trung chủ nghĩa bằng duy tâm chủ nghĩa hoặc bằng duy vật siêu hình chứ không phải bằng duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác. Trên bình diện khoa học cụ thể họ đề cao quan điểm/tiếp cận cá nhân luận (Individualistic Perspective/Approach). Họ cho rằng nghiên cứu hành vi cá thể, hành động cá nhân, tương tác vi mô là cơ bản hơn so với nghiên cứu hành động tập thể, quá trình vĩ mô; vì muốn giải thích nhân quả thì trước hết cần phải tìm hiểu ý nghĩa của hành vi con người và thấu hiểu (Verstehen - thuật ngữ độc đáo của M. Weber) ý nghĩa của sự kiện mới thực sự là nghiên cứu cơ bản nhất; nói khác đi, giải nghĩa (Deep Understanding) cơ bản hơn giải thích (Explanation). Một cách tương ứng, nghiên cứu cơ bản định tính quan trọng hơn nghiên cứu cơ bản định lượng.

Thực ra, hai hệ quan niệm này chỉ đối kháng với nhau trong giai đoạn đầu và chỉ tiếp tục đối đầu với nhau giữa những tác giả có thái độ cực đoan, thái quá. Trong các giai đoạn về sau và nhất là hiện nay ngày càng có sự xích lại gần nhau, bổ sung cho nhau để có quan niệm đầy đủ hơn: kết hợp nghiên cứu cơ bản lý thuyết và nghiên cứu cơ bản thực nghiệm, nghiên cứu cơ bản định tính và nghiên cứu cơ bản định lượng, nghiên cứu thấu hiểu (ý nghĩa) và nghiên cứu giải thích (nhân quả) theo những kiểu cách và mức độ khác nhau.   

- Quan niệm hiện đại hoặc/và Quan niệm hậu hiện đại

Quan niệm hiện đại chủ nghĩa (Modernism) dựa trên hệ quan điểm/tiếp cận cổ điển trong Triết học và Khoa học cụ thể. Theo đó thì các khung mẫu (Paradigm) lý thuyết, các Đại tự sự (Grands Récit = thuật ngữ của J.F. Lyotard) mới xứng tầm nghiên cứu cơ bản. Khuynh hướng nổi trội của quan niệm hiện đại chủ nghĩa về nghiên cứu cơ bản là đề cao Quy giản luận (Reductionism)Tất định luận (Determinism). Đây là cơ sở cho các quan điểm duy/vị cực đoan như chủ nghĩa duy vật khoa học, chủ nghĩa duy tâm vật lý, chủ nghĩa duy nghiệm phê phán, chủ nghĩa duy lý phê phán, ...

Quan niệm hậu hiện đại chủ nghĩa (Postmodernism) lúc đầu là sự nổi loạn chống lại quan niệm hiện đại chủ nghĩa, tuyên bố xoá bỏ thần tượng Đại tự sự của Triết học và Khoa học cổ điển có khuynh hướng đề cao thái quá Quy giản luận và Tất định luận, thay thế vào đó là những diễn ngôn hậu hiện đại (Postmodernist Discourse) mang tính Phản quy giản luận (Antireductonism)Phản tất định luận (Antideterminism). Tuy nhiên, hiện nay những người theo quan điểm hậu hiện đại quá khích và những người muốn kéo dài sức sống của chủ nghĩa hiện đại bằng chủ nghĩa hiện đại hậu kỳ (Latemodernism) đang xích lại gần nhau; kết quả đang tạo ra song đề giữa quan niệm hiện đại hoặc/và quan niệm hậu hiện đại về nghiên cứu cơ bản.

Song đề giữa quan niệm hiện đại hoặc/và quan niệm hậu hiện đại về nghiên cứu cơ bản có một biểu hiện quan trọng đó là tình trạng đối/hợp giữa nghiên cứu cơ bản chuyên ngành hoặc/và nghiên cứu cơ bản liên ngành. Bởi vì chủ nghĩa hiện đại đã tạo ra sự cách biệt quá lớn giữa các chuyên ngành trong Triết học và Khoa học cụ thể, cũng như giữa Khoa học cụ thể và Triết học. Sứ mệnh lịch sử của chủ nghĩa hậu hiện đại là xoá bỏ sự cách biệt thái quá đó. Tuy nhiên, có vẻ như không thể xoá bỏ hoàn toàn đường phân ranh giữa các Khoa học cơ bản cũng như giữa nghiên cứu khoa học cơ bản với nghiên cứu triết học cơ bản. Bởi vì bản chất của các hệ thống phức hợp là mang tính mềm, mở, mờ chứ không phải cứng, đóng, tỏ như chủ nghĩa hiện đại đã từng giả định. Hoá ra, các hệ thống cứng, đóng, tỏ chỉ là những trừu tượng hoá từ thực tế chứ không phải là thực tại khách quan theo đúng nghĩa của nó.

            Ý kiến 8:

            Thế nào là nghiên cứu cơ bản:  Thuật ngữ “nghiên cứu cơ bản” quan hệ với thuật ngữ “nghiên cứu ứng dụng”  trong nghiên cứu khoa học với tính chất là những thuật ngữ đối xứng : những kết luận của “nghiên cứu cơ bản” (gọi tắt là lý luận cơ bản) là cơ sơ lý luân cho vận dụng trong “nghiên cứu ứng dụng”; ngược lại kết quả của “nghiên cứu ứng dụng” có thể bổ sung, phát triển lý luận cơ bản. Những thuật ngữ này vốn xuất xứ từ xa xưa trong nghiên cứu khoa học kỷ thuật, với hình dung quan hệ giữa nghiên cứu lý thuyết của các khoa học tự nhiên và nghiên cứu chuyển lý thuyết đó thành kỷ thuật (công nghệ). Đã một thời lịch sử khá dài có một quảng cách rất xa thời gian để chuyển được một lý thuyết thành kỷ thuật (công nghệ). Sự tiến bộ của nghiên cứu khoa học đã rút ngắn quảng cách đó, tạo điều kiện cho lý luận cơ bản qua “nghiên cứu ứng dụng” gắn chắt hơn lý thuyết khoa học với đời sống. Nhờ đó mà “khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp”.

          Những hình thức nghiên cứu đó đã được các nhà khoa học xã hội và nhân văn sử dụng trong nghiên cứu khoa học. Chủ nghĩa Mác-Lênin cũng như các khoa học xã hội và nhân văn khác hình thành là sản phẩm của nghiên cứu khoa học, phản ánh sự tồn tại và vận động của thế giới (nghĩa rộng) nói chung và của các lĩnh vực khác nhau của xã hội loài người. Nội dung cơ bản của mỗi học thuyết là sản phẩm của “nghiên cứu cơ bản” . Vận dụng nội dung của mỗi học thuyết, giải quyết khoa học những vấn đề đặt ra của thực tiễn đời sống xã hội là hình thức “nghiên cứu ứng dụng”.     

 Một vấn đề cần chú ý là thuật ngữ “nghiên cứu cơ bản” không đồng nhất nội hàm với thuật ngữ “khoa học cơ bản” trong các chương trình đào tạo của các nhà trường. “Khoa học cơ bản” nằm trong quan hệ thứ bậc về nội dung với các “Khoa học cơ sở chuyên ngành” và “Khoa học chuyên ngành”. Ví như chương trình đào tạo của Học viện Chính trị có các môn học, bao gồm : các Khoa cơ bản (Triết học, Kinh tế chính trị, Chủ nghĩa xã hội khoa học, Lịch sử Phong trào cộng sản, công nhân quốc tế, Lịch sử Việt Nam …); các Khoa cơ sở chuyên ngành (Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam,

Học thuyết Mác-Lênin về xây dựng Đảng, Tâm lý học quân sự, sư phạm học quân sự, Đạo đức học, Mỹ học, Văn học nghệ thuật) và các Khoa chuyên ngành ( các Khoa Quân sư, Khoa Công tác Đảng, công tác chính trị). 

Đương nhiên trong hệ thống các môn học cơ bản, cơ sở chuyên ngành và chuyên ngành, thì các môn ở bậc dưới phải vận dụng lý luận các môn ở bậc trên làm cơ sở lý luận cho nghiên cứu phát triển môn mình. Đối với các môn học cơ bản thì sự ra đời và phát triển, tất nhiên là sản phẩm của hình thức “nghiên cứu cơ bản” là chủ yếu. Nhưng dù ở bậc nào, kể cả bậc lý luận chuyên ngành cũng phải “nghiên cứu cơ bản”. Nói dễ hiểu thì đó là nghiên cứu những khái niệm, nguyên lý, quy luật, có tính chất là những vấn đề gốc của mỗi khoa học, chi phối các phương diện khác của khoa học đó. Rõ ràng nhất là trong nghiên cứu ứng dụng, mỗi khoa học, đều không thể bỏ qua việc lấy những vấn đề gốc đó làm cơ sở. Trong Công tác Đảng, công tác chính trị chẳng hạn, các mặt công tác tư tưởng, công tác tổ chức, công tác chính trị trong các hoàn cảnh đều phải thấu suốt những vấn đề nguyên tắc chung của công tác Đảng, công tác chính trị. Nghiên cứu để phát triển những nguyên tắc đó là “nghiên cứu cơ bản”.

Không nên quan niệm là các môn lý luận cơ bản không có thực hiện   “nghiên cứu ứng dụng”, nhưng quan trọng hơn đối với hiện nay là có khuynh hướng coi lý luận cơ bản, đặc biệt chủ nghĩa Mác-Lênin, trước hết là Triết học, không còn phải “nghiên cứu cơ bản”, bởi dường như quan niệm nội hàm các phạm trù, nguyên lý, quy luật các môn đó là bất biến, chỉ còn “nghiên cứu ứng dụng”.   Bản thân chủ nghĩa Mác-Lênin, học thuyết cách mạng và khoa học, mà trong học tập và nghiên cứu mỗi chuyên ngành đều lấy làm căn cứ về thế giới quan, phương pháp luận chung nhất, thì cũng không loại trừ hình thức “nghiên cứu cơ bản” để phát triển. “Cây đời vĩnh viễn xanh tươi” bắt buộc các thế hệ các nhà lý luận phải phát triển để giải quyết những vấn đề mới đặt ra trong hiện thực, làm sống động chủ nghĩa Mác-Lênin, giữ cho học thuyết này không bị “xám xịt hoà”, mà “tung ra bốn biển đều đúng” như kỳ vọng của Lênin.

Như vậy, “nghiên cứu cơ bản” là hình thức nghiên cứu, mà đối tượng nghiên cứu là những vấn đề cơ bản của mỗi môn khoa học. Tuy rằng, trong nghiên cứu khoa học, “nghiên cứu cơ bản” thường cũng đan xen với “nghiên cứu ứng dụng”. Có tình huống thực hiện đề tài “nghiên cứu ứng dụng” phải trở về với “nghiên cứu cơ bản”giải quyết vấn đề từ gốc, khi phát triển của thực tiễn được tổng kết vượt ra ngoài nội hàm của khái niệm và luận điểm cơ bản, đòi hỏi phải nghiên cứu bổ sung, phát triển, thậm chí thay đổi khái niêm, luận điểm cũ.

Ý kiến 9:

Trong hệ thống nhóm ngành khoa học có khoa học cơ bản, khoa học cơ sở và khoa học chuyên ngành. Trong nghiên cứu khoa học có nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng, nghiên cứu thực nghiệm, nghiên cứu triển khai. Các ngành, nhóm ngành, chuyên ngành khoa học đều có nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng, nghiên cứu thực nghiệm, nghiên cứu triển khai nhằm tiếp tục phát triển các ngành, chuyên ngành khoa học của mình, vận dụng lý luận và giải quyết những vấn đề lý luận và thực tiễn đặt ra; ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn. Các hình thức nghiên cứu đó cần được tiến hành thường xuyên, liên tục, thông qua đó tạo ra động lực cho sự vận động, phát triển của mỗi chuyên ngành khoa học cũng như các ngành khoa học. Vì vậy, chủ thể của hoạt động nghiên cứu cần phân biệt giữa nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng, nghiên cứu thực nghiệm và nghiên cứu triển khai, nắm chắc những dấu hiệu đặc trưng của từng loại hình nghiên cứu về mục tiêu, nhiệm vụ, đối tượng, phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, hình thức, ý nghĩa về lý luận và thực tiễn, quy mô, phương thức tổ chức của các loại hình nghiên cứu nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả các hình thức nghiên cứu khoa học.

Nghiên cứu cơ bản là loại hình nghiên cứu tìm ra những phát minh khoa học, những quy luật, nguyên lý, phạm trù khoa học, một hệ thống lý luận mới, một lý thuyết mới, hoặc nhân tố mới của mộ hệ thống lý luận, lý thuyết khoa học nhằm phát triển một khoa học chuyên ngành, hoặc liên ngành, ngành khoa học…làm cơ sở để tiến hành các loại hình nghiên cứu khoa học khác trong thực tiễn.

Nghiên cứu ứng dụng là loại hình nghiên cứu vận dụng hệ thống lý luận để giải quyết những vấn đề thực tiễn đặt ra trên các lĩnh vực của đời sống xã hội. Dựa trên hệ thống lý luận của khoa học chuyên ngành, hoặc của một số chuyên ngành để tiến hành nghiên cứu những nội dung, những vấn đề cụ thể dựa trên một định hướng nghiên cứu, một giả thuyết khoa học đã xác định nhằm giải quyết những vấn đề thực tiễn đặt ra.

Nghiên cứu thực nghiệm là vận dụng thành tựu của nghiên cứu cơ bản nhằm kiểm chứng những dự báo khoa học, giả thuyết khoa học của các công trình nghiên cứu thuộc các lĩnh vực của đời sống xã hội. Nghiên cứu thực nghiệm có thể cho cho kết quả như mong muốn, nhưng cũng có thể thất bại. Kết quả nghiên cứu thực nghiệm phụ thuộc rất lớn vào các thành tựu của nghiên cứu cơ bản. Nghiên cứu cơ bản càng phát triển bao nhiêu thì kết quả của nghiên cứu thực nghiệm càng cao bấy nhiêu.

Nghiên cứu triển khai là hoạt động chuyển giao công nghệ, chuyển giao kết quả nghiên cứu ứng dụng thành đề án để hiện thực hoá, xã hội hoá kết quả nghiên cứu khoa học vào thực tiễn.

Sự phân loại các loại hình nghiên cứu, nhận diện nó trong thực tiễn có ý nghĩa rất quan trọng trong phát triển khoa học. Nếu không nhận thức đầy đủ, đúng đắn vị trí, vai trò, mối quan hệ giữa các loại hình nghiên cứu sẽ dẫn đến sự trì trệ trong nghiên cứu khoa học. Trong thực tiễn các loại hình nghiên cứu khoa học được tiến hành đồng thời theo những đối tượng, nội dung, phương thức riêng của chúng. Sự vận hành đồng bộ đó tạo ra động lực thúc đẩy khoa học phát triển, đưa xã hội ngày càng tiến lên.

 Nghiên cứu cơ bản của Khoa học xã hội và nhân văn

Khoa học xã hội và nhân văn là ngành khoa học, bao gồm rất nhiều chuyên ngành khoa học có chung đối tượng nghiên cứu là xã hội loài người và con người với tư cách là một thực thể xã hội, nghiên cứu hoạt động sống của con người - con người xã hội, với đầy đủ các mối quan hệ xã hội. Trước đây, quan niệm các khoa học đó là khoa học xã hội, đặt trong mối quan hệ so sánh với khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật.

Như vậy, mỗi khoa học đều có đối tượng, nội dung, phương thức nghiên cứu cơ bản của riêng mình. Chẳng hạn: Triết học, Kinh tế học, Chính trị học, Lịch sử, Tâm lý học, Xây dựng Đảng…đều có đối tượng, nội dung phương thức nghiên cứu cơ bản, không có sự trùng lặp. Tuy nhiên, các chuyên ngành khoa học thuộc ngành khoa học xã hội và nhân văn cũng có điểm chung, có sự giao thoa nhất định về đối tượng, nội dung, phương thức nghiên cứu cơ bản. Nhận diện sự tương đồng này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong xem xét, đánh giá kết quả nghiên cứu cơ bản của khoa học xã hội và nhân văn với khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật.

Nội dung nghiên cứu cơ bản của các chuyên ngành thuộc Khoa học xã hội và nhân văn hiện nay thường tập trung vào những vấn đề sau: 1) Nghiên cứu những vấn đề liên quan đến lịch sử hình thành, phát triển của khoa học (lịch sử triết học, lịch sử các học thuyết kinh tế, lịch sử công tác đảng, công tác chính trị …). 2) Nghiên cứu làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn những vấn đề mới về lý luận do thực tiễn cuộc sống đặt ra cho mỗi khoa học cần giải quyết. 3) Nghiên cứu xây dựng, bổ sung, hoàn thiện hệ thống khái niệm, phạm trù, hệ thống phương pháp nghiên cứu chuyên ngành đáp ứng sự phát triển của xã hội và của khoa học. 4) Nghiên cứu tổng kết thực tiễn để khái quát, bổ sung, phát triển lý luận của khoa học chuyên ngành và của các khoa học liên ngành. Tuy nhiên, tuỳ theo đối tượng nghiên cứu của mỗi khoa học mà lựa chọn những nội dung phù hợp, xác định rõ phạm vi nghiên cứu của mình, không trùng lặp với nội dung nghiên cứu của các khoa học khác.

Ý kiến 10:

Nghiên cứu khoa học là một dạng hoạt động đặc biệt phức tạp, về thực chất đây là hoạt động trí tuệ sáng tạo của các nhà khoa học nhằm nhận thức thế giới, tạo ra hệ thống tri thức mới và ứng dụng chúng vào việc cải tạo thế giới khách quan. Ngày nay, đồng thời với sự phát triển mạnh mẽ của thực tiễn hoạt động nghiên cứu khoa học là sự hình thành các bộ môn lý luận về nghiên cứu khoa học. Các bộ môn này đã phân tích các hoạt động nghiên cứu khoa học và khái quát ra lý luận về phương pháp nghiên cứu. Trong đó, đã phân chia thành các loại hình nghiên cứu khoa học. Có nhiều cách phân chia khác nhau, dựa trên những cách tiếp cận khác nhau. Căn cứ vào các trình độ nhận thức, đồng thời căn cứ vào mục tiêu sản phẩm cũng như phạm vi áp dụng các kết quả nghiên cứu, người ta phân chia ra các loại hình nghiên cứu khoa học chủ yếu sau đây:

- Nghiên cứu cơ bản là loại hình nghiên cứu có mục tiêu tìm tòi, sáng tạo ra những tri thức mới, những giá trị mới. Đây là những tri thức cơ bản, tri thức nền tảng cho quá trình nghiên cứu và ứng dụng tiếp theo. Những tri thức này thường được thể hiện dưới dạng các khái niệm, phạm trù, các định luật, định lý, công thức phản ánh bản chất, quy luật vận động của đối tượng nghiên cứu.

Nghiên cứu cơ bản lại được chia làm hai loại: nghiên cứu cơ bản thuần tuý là loại hình nghiên cứu cơ bản chưa nhằm mục đích ứng dụng nào; nghiên cứu cơ bản định hướng là những nghiên cứu cơ bản theo một số địa chỉ ứng dụng nào đó.

- Nghiên cứu ứng dụng là loại hình nghiên cứu vận dụng những tri thức cơ bản để sáng tạo ra các nguyên lý, quy trình công nghệ mới trong quản lý kinh tế-xã hội, trong sản xuất chế tạo sản phẩm mới.

Các tri thức được khái quát trong nghiên cứu ứng dụng nhằm đáp ứng các nhu cầu của thực tiễn sản xuất và đời sống, vì vậy các tri thức đó có thể và cần phải được thay đổi theo sự biến đổi, phát triển của cuộc sống thực tiễn.

- Nghiên cứu triển khai là loại hình nghiên cứu tìm ra các giải pháp, các mô hình áp dụng đại trà kết quả nghiên cứu ứng dụng vào thực tiễn sản xuất và đời sống xã hội.

Các tri thức thu nhận được trong nghiên cứu triển khai là các tri thức về cách thức thao tác, về quy trình công nghệ hay giải pháp kỹ thuật được áp dụng trong những điều kiện, hoàn cảnh nhất định. Vì vậy, các tri thức này phải luôn luôn được đổi mới để đáp ứng với sự phát triển mới của môi trường, của tình hình và những yêu cầu mới của cuộc sống đặt ra.

- Nghiên cứu dự báo là loại hình nghiên cứu nhằm phát hiện ra những triển vọng, khả năng, xu hướng phát triển mới của khoa học và thực tiễn. Kết quả của nghiên cứu dự báo sẽ là cơ sở khoa học quan trọng để xác định các chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, chiến lược phát triển khoa học - công nghệ. Vì vậy, trong nghiên cứu dự báo các nhà khoa học thường hướng sự chú ý vào giải quyết các đề tài, công trình trọng điểm gắn với các yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, văn hoá - giáo dục, quốc phòng - an ninh của đất nước trong những năm sắp tới.

Mặc dù phân chia ra các loại hình nghiên cứu khác nhau nhưng trong thực tế sự phân chia đó chỉ là tương đối. Đây không đồng nghĩa với sự phân biệt thứ bậc trong nghiên cứu. Bởi vì sự đa dạng của khoa học là một trong những đặc trưng  bản chất của nghiên cứu khoa học. Các hình thức nghiên cứu luôn có xu hướng thâm nhập vào nhau thành loại hình nghiên cứu hỗn hợp. Thực tế đã chứng minh rằng, đôi khi các ý tưởng nghiên cứu cơ bản đã được bắt đầu từ các hoạt động nghiên cứu thực tiễn. Trong nghiên cứu cơ bản, người ta phải sử dụng những công cụ, phương tiện kỹ thuật đặc biệt để thí nghiệm, thực nghiệm nhằm đo lường, kiểm định độ tin cậy của những kết quả nghiên cứu.

Ý kiến 11: Quan niệm về nghiên cứu cơ bản.

Bất kỳ ai biết và yêu khoa học đều hiểu rõ rằng khoa học được tạo nên bởi nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng, thông qua phương pháp: lý thuyết, quan sát, thí nghiệm,... để tìm ra chân lý khoa học và chứng minh nó trên thực tiễn.

Không nên đối lập khoa học cơ bản với khoa học ứng dụng và danh giới của chúng cũng chỉ có tính chất tương đối, chúng có quan hệ biện chứng tương hỗ và cần có nhau để phát triển. Sự đa dạng của khoa học là giá trị chân lý của nó. Trong lịch sử của khoa học, ban đầu chưa có sự phân biệt khoa học cơ bản và khoa học ứng dụng.

Song, cùng với sự phát triển của khoa học và sự đa dạng, phong phú, phức tạp của nó, nên sự phân biệt giữa khoa học cơ bản và khoa học ứng dụng mới xuất hiện vào những năm giữa thế kỷ XX.

Khoa học cơ bản là nghiên cứu khám phá quy luật và tạo ra lý thuyết mới. Mục đích của nghiên cứu cơ bản là đi con đường chưa ai đi, khám phá quy luật tự nhiên chưa ai tìm ra, chứng minh những lý thuyết chưa ai chứng minh được (như Ngô Bảo Châu).

Khoa học ứng dụng là dựa trên nền tảng của khoa học cơ bản mà sáng tạo, phát minh ra cơ sở vật chất, công nghệ sản xuất, sản phẩm công nghệ cao, tạo tiền đề và động lực cho sự phát triển kinh tế.

Khoa học cơ bản là tiền đề cho các khoa học khác, trong đó có khoa học ứng dụng. Khoa học cơ bản giống như cái móng nhà, nó chẳng làm đẹp cho ngôi nhà, nhưng nó làm cơ sở vững chắc cho chủ thoải mái xây cao, xây đẹp, xây nặng và trang trí hoành tráng trên đó.

Khoa học sơ bản và khoa học ứng dụng đều có vị trí ngang nhau và bổ trợ lẫn nhau trong suốt quá trình sáng tạo không ngừng của loài người. Khoa học cơ bản là tiền đề cho khoa học ứng dụng. Chỉ nghiên cứu khoa học ứng dụng chẳng khác nào chỉ nghĩ tìm tiền để mua chiếc ô tô mà không nghĩ làm gì để chế tạo ra chiếc ô tô.

Ngày nay khoa học cơ bản không chỉ là những con số cộng, trừ, nhân, chia, vi phân, tích phân, lý thuyết tập mờ...mà đi vào giải quyết các vấn đề sâu hơn, khó hơn như một dự án phóng tên lửa, tàu vũ trụ vào không gian, một dự án về phát triển nông nghiệp sạch, một phát minh máy công cụ đa năng giảm nhiều công sức, tăng năng xuất lao động, giải phóng con người...

Trước kia mỗi phát minh khoa học đều được xem như giá trị của nhân loại, được sử dụng chung. Ngày nay, với Công ước Bơn không ai chuyển giao bí mật nghiên cứu cơ bản cũng như nghiên cứu ứng dụng cho các nước khác.

Những nước có khoa học ứng dụng cao là những nước có khoa học cơ bản hiện đại và đi vào chiều sâu, họ luôn nhập khẩu tài nguyên thô để rồi chế biến nâng cao giá trị sản phẩm, thu lợi nhuận lớn. Còn những nước khoa học cơ bản và khoa học ứng dụng thấp (như Việt Nam) thì cái gì cũng phải mua, phải trao đổi bằng những tài nguyên thô, dùng tài sản hữu hạn để đổi lấy sản phẩm trí tuệ vô hạn và đến một lúc sẽ cạn kiệt.

          Ý kiến 12:

Hiểu thế nào về nội hàm quan niêm nghiên cứu cơ bản trong khoa học xã hội và nhân văn?, theo chúng tôi, có thể đi sâu làm rõ một số nội dung nghiên cứu sau đây.

- Nghiên cứu lý luận cơ bản và lý thuyết. Đối với bất kỳ khoa học nào, hoạt động nghiên cứu khoa học này cũng đóng vai trò nền tảng và trên thực tế mỗi bước phát triển của một lĩnh vực khoa học nào đó đều gắn với sự xuất hiện, hoàn thiện và tác động của một hệ thống lý luận và lý luận nghiên cứu nào đó, ở đây cũng cần tránh cách hiểu không đầy đủ, coi nghiên cứu lý luận chỉ bao gồm các khoa học lý luận về chính trị, về các học thuyết chính trị.

- Tìm tòi, thể nghiệm, hoàn thiện các phương pháp tiếp cận mới trong khoa học xã hội & nhân văn. Phương pháp nghiên cứu là công cụ giúp nâng cao năng lực nghiên cứu và chất lượng khoa học của công trình, đối với một số ngành, một số loại đề tài, nếu không có phương pháp tiếp cận tin cậy thì khó có được kết quả khoa học nghiêm túc.

- Nghiên cứu các vấn đề cơ bản, mỗi lĩnh vực khoa học đều có những vấn đề mà sự nhận thức sâu sắc chúng là nền tảng cho việc triển khai các đề tài nghiên cứu khác. Các vấn đề cơ bản bao gồm cả hệ thống những phạm trù, khái niệm, nguyên lý, quy luật, thuật ngữ khoa học liên quan tới các lĩnh vực khoa học hoặc các chuyên ngành, xây dựng những bộ công cụ tra cứu từ điển, chuyên đề, các bộ sách phục vụ cho nghiên cứu môn học cũng phải được xếp vào phạm trù nghiên cứu cơ bản, những hoạt động tổng kết thành tựu nghiên cứu theo thời gian, theo không gian, theo từng lĩnh vực, trên cơ sở đó để đánh giá thực trạng, nhận dạng xu hướng vận động, biến đổi của đối tượng và chỉ ra phương hướng nghiên cứu tiếp theo. Nghiên cứu cơ bản bao gồm cả điều tra cơ bản, xây dựng cơ sở dữ liệu, thông tin, tài liệu phục vụ cho nghiên cứu theo chiều sâu.

Mục đích của nghiên cứu cơ bản là đi con đường chưa ai đi, khám phá ra những nguyên lý, những quy luật, những phạm trù chưa ai tìm ra, hoặc là nghiên cứu bổ sung hoàn thiện một vấn đề về lý luận, nguyên lý. Quy luật, một phạm trù, chứng minh những lý thuyết chưa ai chứng minh thành công. Tóm lại, nghiên cứu cơ bản nhằm phát hiện ra một quy luật hay một hiện tượng mới mà chưa có trong hệ thống tri thức của nhân loại, tạo ra hệ thống tri thức và năng lực chiều sâu, nghiên cứu cơ bản là tiếp tục những gì mà Học viện đang và sẽ làm chứ không phải là đi lại từ đầu, nghiên cứu cái mà người ta đã nghiên cứu rồi. Có thể chúng ta phải tìm ra cho được nguyên lý mới, quy luật mới, hoặc là góp phần bổ sung, hoàn thiện lý luận, luận điểm, phạm trù, nghiên cứu thành công sẽ là động lực thúc đẩy, có vai trò to lớn đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp giảng dạy, nâng cao chất lượng đào tạo. Trong khi đó, mục đích của nghiên cứu ứng dụng là dựa trên nền tảng của nghiên cứu cơ bản mà sáng tạo, phát sinh ra cơ sở vật chất, công nghệ sản xuất, sản phẩm công nghệ cao tạo tiền đề và động lực cho phát triển kinh tế.

Ý kiến 13:

Nghiên cứu cơ bản là một hình thức nghiên cứu chính trong hoạt động khoa học, là yêu cầu và động lực phát triển của khoa học. Trong nghiên cứu khoa học nói chung, khoa học xã hội và nhân văn quân sự nói riêng thực hiện những hình thức nghiên cứu là: nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng và nghiên cứu triển khai; dưới góc độ khác việc nghiên cứu còn có thể được gọi là nghiên cứu lý thuyết, nghiên cứu thực tiễn. Trong thực tế, hai hình thức nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng được thực hiện thường xuyên và chủ yếu trong hoạt động nghiên cứu khoa học, còn nghiên cứu triển khai ít sử dụng hơn.

Để là rõ quan niệm về nghiên cứu cơ bản, cần xem xét trên hai góc độ tiếp cận chính:

- Tiếp cận ở góc độ lý thuyết thì cần phải làm rõ hai thuật ngữ, hai khái niệm chính: nghiên cứu và cơ bản. Theo Từ điển tiếng Việt, nghiên cứu là “Xem xét, làm cho việc nắm vấn đề dễ nhận thức, tìm cách giải quyết”; còn cơ bản được hiểu là “Có tác dụng làm nền, làm gốc trong hệ thống nào đó”[12].

- Tiếp cận ở góc độ thực tiễn, thì nghiên cứu cơ bản là một hình thức nghiên cứu khoa học được chúng ta đang thực hiện trong hầu hết tất cả các công trình nghiên cứu khoa học, kể cả trong các công trình nghiên cứu ứng dụng. Tuy nhiên, tính chất cơ bản của nó được biểu hiện tập trung, chủ yếu (không phải là duy nhất) ở việc luận giải khung lý thuyết của đề tài, của công trình khoa học.

Theo định nghĩa của Từ điển Bách khoa Việt Nam, thì nghiên cứu cơ bản được quan niệm là: “Những hoạt động khoa học nhằm phát hiện các thuộc tính, các mối quan hệ, các quy luật khách quan của sự vật hay hiện tượng. Kết quả của nó biểu hiện ở việc tìm ra các thuộc tính, các hiện tượng mới, các quan hệ, các quy luật mới của hiện thực khách quan, xây dựng nên các suy luận lôgích, khái niệm, quan niệm, giả thiết, lý thuyết mới nhằm phản ánh ngày càng sâu sắc hơn các thuộc tính khách quan vốn có của sự vật và hiện tượng”[13]. Mỗi một khoa học có yêu cầu và cách thức cụ thể riêng về nghiên cứu cơ bản, do sự quy định trực tiếp của đối tượng nghiên cứu của từng ngành, từng chuyên ngành khoa học cụ thể.

Ngoài những tính chất chung của nghiên cứu khoa học, nghiên cứu cơ bản thể hiện nổi trội những tính chất sau:

- Tính nền tảng.

- Tính học thuật, hàn lâm.

- Tính khám phá.

- Tính sáng tạo.

Nghiên cứu cơ bản có các hình thức nghiên cứu lý thuyết - Nghiên cứu lý thuyết (nghiên cứu sáng tạo các khái niệm, phạm trù, quy luật, các vấn đề lý luận mới) và nghiên cứu, tổng kết lý luận (rút ra những vấn đề mới về lý luận...).

Ý kiến 14:

“Nghiên cứu khoa học là một dạng hoạt động đặc biệt phức tạp của con người, là hoạt động trí tuệ sáng tạo của các nhà khoa học nhằm nhận thức thế giới, tạo ra hệ thống tri thức có giá trị và ứng dụng vào việc cải tạo thế giới khách quan”[14].

Hoạt động nghiên cứu khoa học thường được phân ra nhiều loại hình: Nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng, nghiên cứu triển khai.

Nghiên cứu cơ bản là loại hình nghiên cứu có mục tiêu tìm tòi, sáng tạo ra những tri thức mới, những giá trị mới. Đây là những tri thức cơ bản, tri thức nền tảng cho quá trình nghiên cứu và ứng dụng tiếp theo. Những tri thức này thường được thể hiện dưới dạng các khái niệm, phạm trù, các định luật, định lý, công thức phản ánh bản chất, quy luật vận động của đối tượng nghiên cứu. Nghiên cứu cơ bản được chia thành 2 loại: Nghiên cứu cơ bản thuần tuý là loại hình nghiên cứu cơ bản chưa nhằm mục đích ứng dụng nào; Nghiên cứu cơ bản định hướng là loại nghiên cứu cơ bản theo một số địa chỉ ứng dụng nào đó.

Ý kiến 15:

“Nghiên cứu cơ bản” trong mọi khoa học nói chung, là những hoạt động khoa học xuất phát từ việc làm rõ những sự thật của thực tế - hiện thực khách quan; của thực tiễn lịch sử xã hội… đã có từ lâu hoặc mới xuất hiện rồi trên các cơ sở đó mà khái quát - nêu lên được các khái niệm, phạm trù, tính quy luật hoặc quy luật (nếu những sự thật đó có lặp đi, lặp lại phổ biến hoặc khá phổ biến của tự nhiên, của xã hội nói chung; của toàn cầu hay của một khu vực, của một quốc gia; của một ngành, v.v…) có liên quan đến cuộc sống con người (tức là tính mục đích của nghiên cứu).

Những kết quả của “nghiên cứu khoa học cơ bản” trong mọi khoa học, nếu phản ánh đúng thực tiễn và khái quát được nhiều giá trị nêu trên, được quốc tế hoặc quốc gia, hoặc các ngành…, qua kiểm nghiệm công nhận và ứng dụng… thì chúng không chỉ dừng lại ở chức năng và giá trị “phản ánh” mà quan trọng hơn là từ đó mà chúng có căn cứ để dự báo khoa học - do đó có giá trị và tác dụng “soi sáng, dẫn dắt” nhiều hoạt động thực tiễn nhận thức và vận dụng đúng đắn, có hiệu quả ngày càng cao…trong quá trình nhận thức, cải tạo tự nhiên, xã hội và bản thân con người theo hướng văn minh hơn.

Nghiên cứu khoa học cơ bản ngày nay trong mọi khoa học, cần dựa trên ít nhất 3 cơ sở chung nhất, đó là :

- Những tư liệu của sự thật - hiện thực khách quan; thực tiễn lịch sử đã có… liên quan trực tiếp đến lĩnh vực nghiên cứu… đã được xác định rõ và đúng một cách khá phổ biến (một căn cứ cho niềm tin khoa học - tức là: từ sự thật “thông sử - chính danh” cho đến “ phân tích lịch sử”… trên các cơ sở khoa học có độ tin cậy…).

- Những giá trị lý luận khoa học đi trước của các chuyên ngành, đã được quốc tế hoặc quốc gia, ngành… công nhận, vận dụng.

- Những tư liệu thực tiễn của thời đại và của quốc gia hiện nay .



[1] Viện Ngôn ngữ học, Từ điển tiếng Việt, Trung tâm Từ điển học- Nhà xb Đà Nẵng, Hà Nội 2000, tr.214.

[3] V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb.Tiến bộ, Mátxcơva, 1981, t.29, tr.268.

[4] Hồ Chí Minh, toàn tâp, tập 9 Nxb sự thật H. 2000, tr.314

[5] Hồ Chí Minh, toàn tâp, tập 6 Nxb sự thật H. 2000, tr.175

[6] Cái gọi là "nghiên cứu tài liệu" trong quá trình học tập không phải là nghiên cứu theo đúng nghĩa của nó; đó chẳng qua chỉ là nhận thức lại thành quả của nghiên cứu đích thực.

[7] Trong Triết học phương Tây, đó là Aristotle, Plato, Democrit, Heraclit, Socrat, F. Bacon, R. Descartes, G. Berkeley, I. Kant, G.W.F. Hegel, K. Marx, A. Comte,…Trong Khoa học phương Tây, đó là Euclid, N.I. Lobachevsky, Pythagoras, G. Cantor, G.W. Leibniz, Galileo Galilei, I. Newton, A. Einstein, N. Bohr, W. Heisebgerg, D.I. Mendeleyev, C.R. Darwin, A. Comte, K. Marx, M. Weber,…

[8] Từ điển bách khoa Việt Nam. 2003. Nxb TĐBK. Hà nội. tr.116.

[9] Thí dụ điển hình về các công trình nghiên cứu cơ bản:

Trong Triết học, đó là "Metaphysics" (Siêu hình học) và "Organon" (Bộ công cụ) của Aristotle, "Novumorganon" (Bộ công cụ mới) của F. Bacon, "Phê phán lý tính thuần tuý" của I. Kant, "Khoa học về Logic" của G.W.F. Hegel, "Triết học thực chứng" của A. Comte, "Biện chứng của Tự nhiên" của F. Engels, "Chủ nghĩa duy vật và Chủ nghĩa phê phán kinh nghiệm" của V.I. Lenin, …

Trong Khoa học cụ thể, đó là hệ tiên đề hình học Euclid, hệ nguyên lý cơ học Newton, Thuyết tương đối Einstein, Thuyết lượng tử của Bohr-Heisenberg, Bảng tuần hoàn Mendeleyev, Thuyết tiến hoá Darwin, Bộ "Tư bản" của Marx, …

[10] Trong Vật lý học chẳng hạn, nghiên cứu thực nghiệm cơ bản của A.A. Michelson (đo lường chính xác tốc độ của ánh sáng trong chân không) là quá trình độc lập hoàn toàn với nghiên cứu lý thuyết cơ bản của A. Einstein (xây dựng cơ sở lý thuyết tương đối hẹp); trong khi Galileo Galilei đã kết hợp nghiên cứu thực nghiệm cơ bản (đo lường chính xác tốc độ viên bi lăn trên một mặt phẳng nghiêng) và nghiên cứu lý thuyết cơ bản (phát hiện quy luật quán tính của chuyển động cơ giới) trong một nghiên cứu vật lý cơ bản, góp phần xây dựng hệ nguyên lý cơ học Newton.

[11] Sản phẩm của nghiên cứu cơ bản thuần tuý chính là những phát minh (= phát hiện cơ bản), thí dụ như I. Newton phát minh định luật hấp dẫn vũ trụ, G. Galilei phát hiện các vệ tinh của Sao Mộc, Marie và Pierre Curie phát hiện nguyên tố phóng xạ Radium, Adam Smith phát hiện "Bàn tay vô hình" của Thị trường, K. Marx phát hiện quy luật bóc lột giá trị thặng dư của phương thức sản xuất TBCN,…Nhiều phát hiện không được coi là phát minh, nghĩa là không thuộc phạm trù nghiên cứu cơ bản thuần tuý, chẳng hạn như phát kiến về địa lý tự nhiên; phát hiện khảo cổ học; phát hiện trong điền dã dân tộc học hay trong khảo sát, điều tra xã hội học.

Sản phẩm của nghiên cứu cơ bản thuần tuý còn có thể là những tổng kết lớn tạo ra những Lý thuyết nền tảng hoặc Khung lý thuyết cơ bản, chẳng hạn như Chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của K. Marx và F. Engels; Lý thuyết hệ thống tổng quát của L. Bertalanffy; Quan điểm tư duy phức hợp của E. Morin; … 

[12] Đại Từ điển Tiếng Việt, Nxb VH-TT, H. 1998, tr. 1197,464.

[13] Từ điển Bách khoa Việt Nam 3, Nxb Từ điển Bách khoa, H. 2003, tr. 116.

[14] Tổng cục Chính tri, Giáo trình Phương pháp luận nghiên cứu khoa học, Nxb QĐND, H. 2008, tr.10.

 

Các tin cùng chuyên mục

  1. Nghiên cứu cơ bản(08/10/13 06:14)